Thứ Hai, 5 tháng 1, 2015

Theo dõi sau khi điều trị ung thư vú nam

Nam giới ít có nguy cơ bị ung thư vú hơn phụ nữ, nhưng khi đã được chẩn đoán bị bệnh thì tỉ lệ tử vong do ung thư vú ở nam giới lại cao hơn phụ nữ khá nhiều.
Quá trình diễn tiến của bệnh ung thư vú nam  được các bác sỹ chuyên khoa ghi nhận cũng tương tự như phụ nữ. Ở giai đoạn đầu, bệnh rất âm thầm, không gây đau nhức nhưng do cơ ngực của nam giới mỏng nên rất dễ phát hiện cục u cứng nếu bệnh nhân quan tâm đến tình trạng sức khỏe của mình. Mặc dù ung thư vú xảy ra ở nam giới ít hơn so với phụ nữ nhưng mức độ nguy hiểm cao hơn do tuyến vú của nam giới không phát triển nên khi có ung thư dễ gây xâm lấn thành ngực, gan, phổi, xương...
Mặt khác, nam giới thường không quan tâm đến bộ phận này nên không phát hiện những bất thường ở giai đoạn sớm. Khi bệnh có những triệu chứng rõ ràng như đau nhức ở núm vú, lở loét, tiết dịch thì ung thư vú đã ở giai đoạn nặng.
Có nhiều yếu tố nguy cơ dẫn đến ung thư vú ở nam giới như tiền sử gia đình, tuổi tác, tình trạng béo phì, hút thuốc lá, ít vận động, chế độ ăn nhiều chất béo nhưng ít chất xơ...
Bên cạnh đó, yếu tố nội tiết cũng gây ảnh hưởng đến  ung thư vú ở phái mạnh, đặc biệt là những trường hợp có điều trị estrogen như những người chuyển giới tính hoặc ung thư tiền liệt tuyến làm tăng nội tiết tố nữ và giảm lượng nội tiết tố nam trong cơ thể.
Phát hiện sớm và điều trị ung thư vú ở nam giớiVì sao đàn ông cũng bị ung thư vú?
Trong cơ thể của nam giới, cụ thể là ở vùng ngực, có những tế bào vú không chức năng, tức không thể tiết sữa. Việc không khống chế được các tế bào này có thể làm chúng phát triển thành chứng bệnh ung thư.Có nhiều nguyên nhân gây ung thư vú, chủ yếu là tác động của môi trường xung quanh, gene di truyền, chế độ ăn uống, sinh hoạt không khoa học, hay do hệ lụy của những chứng bệnh như gan mãn tính… Những quý ông thường xuyên hút thuốc lá hoặc lạm dụng đồ uống có cồn thuộc nhóm dễ bị ung thư vú nhất.Ung thư vú ở nam giới nguy hiểm hơn phụ nữ do tuyến vú của nam giới không phát triển nên khối u dễ xâm lấn, di căn vào gan, phổi, xương.
Cách nhận biết ung thư vú
Để phát hiện sớm ung thư vú, các đấng mày râu cần căn cứ vào những biểu hiện bất thường như vú nổi cục, nổi hạch, sưng lớn, thay đổi màu da vú hoặc một bên vú bị lõm xuống nhiều so với bên kia. Ngoài ra, đầu núm vú có thể bị co rút lại, chảy dịch vàng.Những kỹ năng cơ bản để giúp các đấng mày râu tự kiểm tra vùng ngực gồm:
Thường xuyên kiểm tra vú định kỳ 1 – 2 tháng một lần. Bắt đầu kiểm tra vú bằng cách tay trái đặt sau gáy, tay còn lại thực hiện các động tác xoa, sờ, nắn vùng vú bên trái. Nên dùng lực của cả bàn tay ấn vào những vùng nhỏ trên vú xem có bất thường nào không, ví như sờ thấy cục cứng hoặc có cảm giác đau đớn.Khi thực hiện những thao tác này, bạn nên đứng trước gương. Tiếp theo đổi lại tay và tiến hành kiểm tra vùng vú phải. Bắt đầu kiểm tra vùng núm vú bằng cách kẹp núm vú giữa ngón tay trỏ và ngón tay giữa, quan sát xem có điều gì bất thường không.Thực hiện tương tự với bên vú còn lại. Sau khi đã kiểm tra xong hai bên vú hãy dùng khăn khô lau sạch vùng da vú.
Bệnh nhân sau khi được chữa trị ung thư vú cần được thăm khám và theo dõi thường xuyên để chắc chắn đã điều trị được tận gốc chứng bệnh này, tránh tình trạng ung thư di căn, tái phát hay lan sang vùng vú còn lại.Nếu điều trị ở giai đoạn muộn, bệnh nhân có thể phải chấp nhận cắt cả hai tinh hoàn nhằm hạn chế tình trạng di căn vào xương.
Theo dõi sau khi điều trị ung thư vú ở nam giới là rất quan trọng. Kiểm tra định kỳ để đảm bảo phát hiện ra những thay đổi trong sức khỏe và nếu ung thư xuất hiện trở lại hay ung thư mới phát triển nó có thể được điều trị một cách sớm nhất. Kiểm tra bao gồm việc khám sức khỏe, chụp X quang, hay xét nghiệm cận lâm sàng. Giữa những cuộc hẹn khám định kỳ, bệnh nhân ung thư vú cần thông báo bất kỳ vấn đề nào về sức khỏe của mình với bác sĩ càng sớm càng tốt.

Quá trình điều trị ung thư vú nam

Điều trị ung thư vú nam chưa di căn cũng tuân theo các nguyên tắc chung như điều trị ung thư vú ở nữ giới. Bệnh giai đoạn khu trú thường được điều trị bằng phẫu thuật và tuỳ từng trường hợp có thể xem xét chỉ định điều trị bổ trợ.

Phẫu thuât cắt khối u.
Phương thức phẫu thuật truyền thống đối với bệnh khu trú là cắt vú triệt để có cải tiến. Một số ít bệnh nhân có tổn thương rộng ở cơ thành ngực hoặc có hạch Rotter có thể được cắt vú triệt để. Mặc dù phẫu thuật bảo tồn vú (cắt khối u sau đó chiếu xạ) là phù hợp đối với hầu hết bệnh nhân nữ có ung thư vú giai đoạn sớm, bệnh nhân nam thường không cần phải cân nhắc vì khối lượng mô vú ít và phần lớn các khối u thường nằm ở trung tâm.

Sinh thiêt hạch có nguy cơ di căn đầu tiên (hạch nhạy cảm)
Sinh thiết hạch nhạy cảm là một phương thức điều trị ít gây biến chứng thay thế cho vét hạch nách ở bệnh nhân nữ ung thư vú. Với những phẫu thuật viên có kinh nghiệm, sinh thiết các hạch này có thể dự báo chính xác tình trạng của các hạch vùng còn lại, giúp bệnh nhân tránh được phẫu thuật vét hạch nách. Phương pháp này đối với bệnh nhân nam cũng có giá trị như ở bệnh nhân nữ. Trong một nghiên cứu tiến hành trên 16 bệnh nhân nam ung thư vú khu trú, người ta thấy có từ 1 hạch nhạy cảm trở lên dương tính trong số 15 hạch khi dùng biện pháp nhuộm màu phối hợp bằng phóng xạ keo và phẩm xanh. 6 trong số 10 bệnh nhân có hạch nhạy cảm âm tính được vét hạch nách toàn bộ và tất cả đều có hạch âm tính.

Tiên lượng sau phẫu thuật
Cũng như bệnh nhân nữ ung thư vú, kích thước khối u, tổn thương hạch và số lượng hạch tổn thương là các yếu tố tiên lượng quan trọng nhất đối với bệnh nhân nam ung thư vú. Người ta đã thông báo tỷ lệ sống 10 năm của 335 bệnh nhân nam ung thư vú được ghi nhận trong 20 năm như sau:
- Hạch âm tính trên mô học - 84%
- Có 1 đến 3 hạch dương tính - 44%
- Từ 4 hạch trở lên dương tính trên mô học -14%
Vai trò của giai đoạn khối u đối với tỳ lệ sống 5 năm được công bố ở một nhóm 42 bệnh nhân nam ung thư vú thể xâm lấn:
- Giai đoạn I -100%
- Giai đoạn II - 83%
- Giai đoạn III - 60%
- Giai đoạn IV - 25%
Trước kia, ung thư vú ở nam giới được coi là một bệnh ác tính thường phát hiện ở giai đoạn muộn và có tiên lượng xấu hơn rất nhiều so với nữ giới. Các số liệu gần đây hơn không hoàn toàn như vậy. Ví dụ, trong hai nghiên cứu người ta phát hiện thấy có 43 - 50% bệnh nhân có bệnh ở giai đoạn o hoặc 1 khi đến khám và 45 - 62% không có tổn thương hạch. Hơn nữa, các báo cáo gần đây về bệnh nhân ung thư vú cả nam và nữ tương đồng về giai đoạn bệnh và cấp độ khối u đều không thấy có sự khác biệt nào đáng kể về tiên lượng ở hai giới.
Sự tương đồng về giới một phần có thể là do sự cải thiện tỷ lệ sống 5 năm ở bệnh nhân nam ung thư vú đã được mô tả ở hầu hết các nghiên cứu. Trong số 217 bệnh nhân namung thư vú được điều trị tại 18 cơ sở ở Wisconsin từ 1953 đến 1995 người ta thấy rằngnhững bệnh nhân được chẩn đoán sau năm 1986 có xu hướng đến khám khi bệnh còn ở giai đoạn sớm hơn và hay được phẫu thuật triệt để có cải tiến rồi tiến hành điều trị toàn thân bổ trợ hơn. So với giai đoạn trước đó, sự khác biệt này trùng hợp với sự cải thiện tỷ lệ sống 5 năm.
Một nghiên cứu khác đánh giá 54 bệnh nhân được điều trị tại 3 bệnh viện khác nhau. Khi đến khám, một nửa số bệnh nhân có u ở giai đoạn To hoặc Ti, 62% không có tổn thương hạch và 57% bệnh nhân có bệnh ở giai đoạn IIA trở xuống theo AJCC. Bệnh nhân có bệnh giai đoạn từ 0 đến IIA, có tỷ lệ sống cao hơn cả sau 5 năm (100% so với 71%) và 10 năm (71% so với 20%) so với những bệnh nhân có bệnh ở giai đoạn muộn hơn. Các kết quả này còn tốt hơn so với kết quả của các nghiên cứu trước đó.
Một nghiên cứu trên 229 bệnh nhân nam ung thư vú đến khám ở Bệnh viện Công nương Margaret từ 1955 đến 1996 lại cho các kết quả khác. Trong nghiên cứu này, tỷ lệ sống và tiên lượng có vẻ không khác nhau sau một thời gian mặc dù ngày càng có nhiều bệnh nhân được điều trị bằng phẫu thuật chuẩn từ đâu rồi tiến hành điều trị hóa chất và hoóc-môn sau phẫu thuật.
Các chất chỉ điểm khối u
Ngoài giai đoạn, kích thước khối u và tình trạng di căn hạch, các yếu tố khác không có vai trò tiên lượng rõ ràng ở bệnh nhân nam bị ung thư vú; căn bệnh này hiếm gặp và có rất ít nghiên cứu đủ lớn hoặc tiến cứu để đánh giá một cách đây đủ một chất chỉ điểm bệnh học hoặc phân tử đặc hiệu.
Những mối tương quan giữa tiên lượng bệnh và sự trình diện một số chất chỉ điểm phân tử như bội thể ADN, biệt hóa nhân, tình trạng MIB-1 dương tính và cathepsin D đã được đề xuất nhưng chưa được khẳng định.
Trái lại, sự trình diện c-erbB-2 và p 53 có vẻ có ảnh hưởng đến tiên lượng. Trong một nghiên cứu, 50 bệnh nhân nam bị ung thư biểu mô ống xâm lấn được phẫu thuật cắt vú; 35 bệnh nhân dùng thêm hóa chất bổ trợ sau phẫu thuật. Sau trung bình 59 tháng theo dõi các kết quả thu được như sau:
- Bệnh nhân nam có u với c-erbB-2 dương tính có thời gian sống ngắn hơn so với bệnh nhân có u với c-erbB-2 âm tính (39 tháng so với 96 tháng).
- Bệnh nhân nam có u với p 53 dương tính có thời gian sống ngắn hơn so với bệnh nhân nam có p 53 âm tính (33 tháng so với 100 tháng).
- Tất cả 9 bệnh nhân có u không trình diện c-erbB-2 hoặc p 53 còn sống còn tất cả 14 bệnh nhân có u trình diện cả hai chất chi điểm này đều tử vong sau 58 tháng.
Điều trị bổ trợ
Chưa có các nghiên cứu so sánh để hướng dẫn điều trị sau phẫu thuật cho bệnh nhân nam bị ung thư vú. Tần suất ung thư vú nam giới thấp làm cản trở sự xây dựng và hoàn thành đúng thời gian các thử nghiệm lâm sàng đánh giá hiệu quả của liệu pháp bổ trợ. Tuy nhiên, cũng như ung thư vú ở nữ giới, cần xem xét chi định điều trị bổ trợ cho những bệnh nhân có bệnh còn khu trú là những người có nguy cơ tái phát cao sau phẫu thuật ban đầu.
Có nhiều chiến lược điều trị bổ trợ rất khác nhau dành cho  bệnh nhân ung thư vú cả nam và nữ. Một nghiên cứu so sánh 4755 bệnh nhân nam với 624174 bệnh nhân nữ ung thư vútrong đó các bệnh nhân được chọn tương đồng về tuổi (chênh lệch trong khoảng 5 năm), dân tộc, mức thu nhập và giai đoạn bệnh lấy theo dữ liệu của Viện Ung thư Quốc gia Mỹ đã cho thấy rõ điều này. So với bệnh nhân nữ, số bệnh nhân nam được chiếu xạ sau phẫu thuật cắt tuyến vú nhiều hơn nhưng con số này lại ít hơn sau phẫu thuật cắt khối u (54% so với 68%). Bệnh nhân nam thường ít dùng hóa chất sau phẫu thuật hơn bệnh nhân nữ (27% so với 41%).
Liệu pháp điêu trị toàn thân bổ trợ
Các khuyến cáo về liệu pháp nội tiết và/hoặc hóa chất bổ trợ chủ yếu là dựa trên kết quả điều trị của bệnh nhân nữ bị ung thư vú giai đoạn sớm. Một số nghiên cứu không ngẫu nhiên với cỡ mẫu nhỏ cũng nhận thấy điều trị bổ trợ có thể cải thiện tỷ lệ sống cho bệnh nhân nam bị ung thư vú.
Tamoxifen
Tỷ lệ bệnh nhân nam ung thư vú có trình diện thụ thể hoóc-môn cao nên tỷ lệ đáp ứng với hoóc-môn cũng cao. Do đại đa số bệnh nhân nam ung thư vú có u với ER dương tính nên người ta thường khuyến cáo dùng tamoxifen bổ trợ trong 5 năm. Khi so sánh 39 bệnh nhân nam được điều trị bằng tamoxifen với nhóm chứng hồi cứu các tác giả nhận thấytamoxifen cải thiện được tỷ lệ sống thực 5 năm (61% so với 44%) và tỷ lệ sống không bị bệnh (56% so với 28%). Tamoxifen thường được các bệnh nhân nam dung nạp tốt.
Trong số 24 bệnh nhân nam dùng tamoxifen bổ trợ đã gặp các tác dụng phụ như sau:
- Giảm ham muốn tình dục - 29%
- Tăng cân - 25%
- Bốc hoả - 21%
- Thay đổi tâm tính - 21%
- Trầm cảm -17%
Bệnh nhân nam ung thư vú cũng có thể không dung nạp tamoxifen như bệnh nhân nữ. Trong số những nghiên cứu trên, 21% bệnh nhân nam phải ngừng dùng tamoxifen trong quá trình điều trị do tác dụng phụ; tỷ lệ này cao hơn so với tỷ lệ được công bố ở bệnh nhân nữ (4%-7%) dùng tamoxifen.
Hóa chất toàn thân
Hiện cũng chưa có đủ số liệu về tác dụng của hóa chất bổ trợ trong điều trị ung thư vúnam giới. Trong một nghiên cứu, 11 bệnh nhân có bệnh ở giai đoạn II hoặc III được điều trị bổ trợ bằng cyclophosphamid, methotrexat và 5 - fluorouracil (CMF) sau điều trị tại chỗ. So với các nhóm chứng không được điều trị trước đó, CMF bổ trợ có làm giảm nguy cơ tái phát và tăng tỉ lệ sống.
Trong một nghiên cứu khác, 21 bệnh nhân nam  ung thư vú giai đoạn II có di căn hạch nách được điều trị bổ trợ theo phác đồ CMF. Chỉ có 17 trong số 24 bệnh nhân có thể hoàn thành toàn bộ 12 đợt điều trị theo phác đồ, nhưng các bệnh nhân này có tỷ lệ sống 5 năm khá cao (> 80%) và trung vị.
Hiện cũng chưa có đủ số liệu về tác dụng của hóa chất bổ trợ trong điều trị ung thư vúnam giới. Trong một nghiên cứu, 11 bệnh nhân có bệnh ở giai đoạn II hoặc III được điều trị bổ trợ bằng cyclophosphamid, methotrexat và 5 - fluorouracil (CMF) sau điều trị tại chỗ. So với các nhóm chứng không được điều trị trước đó, CMF bổ trợ có làm giảm nguy cơ tái phát và tăng tỷ lệ sống.
Trong một nghiên cứu khác, 21 bệnh nhân nam  ung thư vú giai đoạn II có di căn hạch nách được điều trị bổ trợ theo phác đồ CMF. Chi có 17 trong số 24 bệnh nhân có thể hoàn thành toàn bộ 12 đợt điều trị theo phác đồ, nhưng các bệnh nhân này có tỷ lệ sống 5 năm khá cao (> 80%) và trung vị thời gian sống nói chung ở nhóm này là 98 tháng cho thấy điều trị là có tác dụng.
Người ta khuyến cáo điều trị tamoxifen bổ trợ kèm theo hoặc không kèm theo hóa chất cho những bệnh nhân nam có u trình diện các thụ thể hoóc-môn steroid. Hóa chất toàn thân đơn độc phù hợp với bệnh nhân nam bị u không mang thụ thể hoóc-môn. Cũng như bệnh nhân nữ dùng hóa chất bổ trợ, bệnh nhân nam có thể chọn phác đồ có anthracyclin, phối hợp hoặc không phối hợp với paclitaxel hoặc phác đồ CMF.
Chiếu xạ bổ trợ
Chưa có thử nghiệm ngẫu nhiên tiến cứu đánh giá hiệu quả lâm sàng của chiếu xạ bổ trợ sau phẫu thuật cắt tuyến vú. Kết quả của một nghiên cứu hồi cứu nhỏ cho thấy chiếu xạ sau phẫu thuật cắt tuyến vú làm giảm tỷ lệ tái phát tại chỗ ở bệnh nhân nam ung thư vúnhưng không cải thiện tỷ lệ sống chung. Có ít nhất hai thử nghiệm nhận thấy tỷ lệ sống của bệnh nhân nữ bị ung thư vú giai đoạn II được chiếu xạ sau phẫu thuật được cải thiện. Tác dụng của chiếu xạ đối với bệnh nhân nam chưa chắc chắn.
Điều trị bệnh giai đoạn muộn
Bệnh nhân có bệnh giai đoạn muộn có thể lựa chọn hoặc hoóc-môn hoặc hóa chất toàn thân.
Liệu pháp hoóc-môn
Lần đầu tiên cát tinh hoàn hai bên để  điều trị ung thư vú ở nam giới được công bố vào năm 1942; các nghiên cứu tiếp theo thông báo tỷ lệ đáp ứng của bệnh nhân sau cắt tinh hoàn để điều trị ban đầu ung thư di căn đạt khoảng 32 - 67%. Tuy nhiên, do nhiều bệnh nhân nam không muốn cắt tinh hoàn vì những lý do về tâm lý, tamoxifen đã trở thành liệu pháp hoóc- môn được lựa chọn để điều trị bệnh giai đoạn muộn.
Tamoxifen cho đáp ứng khách quan ở 81% bệnh nhân nam ung thư vú giai đoạn muộn có ER dương tính. Các liệu pháp nội tiết khác, trong đó có aminoglutethimid, estrogen,megestrol acetat, androgen, các hoóc-môn steroid giới tính và các chất tương tự hoóc-môn giải phóng hoóc-môn tạo hoàng thể cho đáp ứng ít nhất ở 40% bệnh nhân bị ung thư có ER dương tính; các tác dụng phụ có xu hướng nặng hơn so với khi dùng tamoxifen.
Có thể xem xét liệu pháp nội tiết thay thế ở bệnh nhân ung thư có ER dương tính và bệnh tiến triển sau khi dùng tamoxifen đồng thời không có tổn thương cơ quan nội tạng nguy hiểm đến tính mạng. Bệnh nhân có tổn thương nội tạng nguy hiểm cần được xem xét chỉđịnh hóa chất toàn thân. Các chất ức chế aromatase chọn lọc như anastrozol, exemestan và letrozol còn chưa được nghiên cứu trên bệnh nhân nam bị ung thư vú.
Hóa chất toàn thần
Cần xem xét chi định hóa chất cho những bệnh nhân ung thư có ER âm tính, có bệnh tiến triển nhanh hoặc có di căn nội tạng gây nguy hiểm đến tính mạng. Các nguyên tắc điêu trị cũng tương tự như các nguyên tắc điều trị cho bệnh nhân nữ ung thư vú giai đoạn muộn.
Nhiều báo cáo đơn lẻ miêu tả hoạt tính của các chế độ đơn hóa chất hoặc đa hóa chất trong điều trị ung thư vú nam. Mặc dù chưa có chế độ điều trị hóa chất tối ưu cho nam giới, người ta có thể áp dụng các hướng dẫn điều trị như đối với bệnh nhân nữ.

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2015

Yếu tố nguy cơ, triệu chứng, chẩn đoán ung thư đầu cổ

Ung thư vùng đầu cổ  phát triển từ những vị trí khác nhau ở vùng đầu và cổ, không kể não bộ. Loại ung thư này bao gồm các nhóm chính thường xuất phát từ lớp mô ẩm ướt lót bên trong miệng (niêm mạc miệng), hầu họng và thanh quản, lớp da vùng đầu cổ, các tuyến nước bọt, tuyến nội tiết (tuyến giáp, còn gọi bướu cổ). 
Mặc dù các bệnh ung thư vùng đầu cổ không phải thường gặp nhất, cũng như không phải các bệnh ung thư gây chết người nhiều nhất, nhưng đều ảnh hưởng đến các chức năng quan trọng như nói, nhai, nuốt, thở và yếu tố thẩm mỹ. Tuy nhiên, ung thư vùng đầu cổ có nhiều khả năng phát hiện bệnh từ giai đoạn sớm. Phát hiện bệnh từ giai đoạn sớm kèm theo điều trị sớm và đúng mức tại cơ sở chuyên khoa sẽ có nhiều kết quả tốt, cơ may khỏi bệnh cao, đảm bảo chất lượng cuộc sống sau khi điều trị.

Nguyên nhân gây bệnh phổ biến là do vi rút, uống rượu, thuốc lá, viêm nhiễm mạn tính, do hút thuốc, uống rượu, ăn trầu... Việc phát hiện sớm sẽ giúp cho việc điều trị bệnh đỡ tốn kém và hiệu quả hơn.
Các yếu tố nguy cơ của bệnh ung thư đầu cổ:
- Nguyên nhân liên quan đến việc sử dụng thuốc lá được xác nhận đối với các khối u ở tất cả các vị trí, vì mỗi loại thuốc lá đều gây ra những tổn thương loạn sản và sinh ung thư. Rượu được coi là đóng vai trò hợp lực với thuốc lá trong việc gây ung thư, tuy nhiên vai trò của rượu đơn độc cũng chưa rõ là có liên quan đến việc làm hư hại tế bào và sinh khối u ác tính hay không.
- Các yếu di truyền chưa được xác định rõ ràng
- Các yếu tố nguy cơ bao gồm nghiện thuốc lá và nghiện rượu nặng (cả hai đều có mối tương quan tỉ lệ thuận giữa liều sử dụng và nguy cơ gây ung thư, trong đó thời gian quan trọng hơn là số lượng); nhiễm virút Epstein-Barr (EBV), trong ung thư mũi hầu; thiếu vitamin và suy dinh dưỡng, vệ sinh răng miệng kém, viêm nhiễm mạn tính trong ung thư thanh quản; tia nắng mặt trời đối với ung thư môi.
Triệu chứng của ung thư đầu cổ:
- Bệnh sử: Nhìn chung là giảm cân và có khối u dai dẳng khi bệnh ở giai đoạn muộn, nhưng các triệu chứng thay đổi tuỳ thuộc vào vị trí giải phẫu liên quan.
- Khoang miệng: sưng lợi, đau, chảy máu, răng lung lay
- Mũi và xoang mũi: tắc mũi một bên, chảy máu cam
- Mũi hầu: đau, thay đổi thính giác, tác mũi
- Miệng hầu: đau âm i, khó nuốt, đau tai có liên quan, cứng khít hàm
- Vùng thanh quản: thay đổi giọng nói, khó nuốt, nuốt đau, khó thở
- Tuyến nước bọt: các triệu chứng một bên, khả năng vận động của hàm bị ảnh hưởng
Chẩn đoán ung thư đầu cổ:
- Khám lâm sàng: thường thì khối u cục có thể sờ thấy hoặc nhìn thấy, cũng có thể liên quan đến các tổn thương dây
thần kinh sọ não, tăng sản lợi, các vết loét hoặc tổn thương sùi ở miệng không liền, loạn sản mảng đỏ, khó thở do các khối u thanh hầu lớn.
- Xét nghiệm cận lâm sàng: không có nhiều giá trị trong chẩn đoán.
- Chụp X quang: phim X quang thẳng, CT, MRI là tốt nhất cho việc xác định độ sâu xâm lấn của khối u và phân biệt thay đổi ác tính với viêm nhiễm, chụp mạch phụ thuộc vào vị trí khối u, chụp đoạn ống tiêu hóa trên.
- Các thăm dò chấn đoán: soi mũi hầu bằng ống soi mềm và sinh thiết, soi thanh quản trực tiếp kết hợp với nội soi thực quản, nội soi thanh quản có sinh thiết để xác định chẩn đoán.

Quá trình điều trị ung thư đầu cổ

Ung thư đầu cổ là một trong nhưng loại ung thư chiếm tỷ lệ cao trong những loại ung thư của con người gặp phải. Nếu phát hiện sớm thì việc phẫu thuật cắt khối u phối hợp với xạ trị đem lại kết quả rất tốt.
Về mặt điều trị, ung thư đầu mặt cổ được điều trị dựa trên cơ sở đa mô thức, kiểm soát tại chỗ, tại vùng bằng phẫu thuật, xạ trị, liệu pháp toàn thân với hóa trị liệu và thuốc nhắm trúng đích.

Điều trị ung thư đầu cổ giai đoạn sớm:
Phẫu thuật đơn độc là phương pháp điều trị tiêu chuẩn đối với ung thư giai đoạn sớm
Điều trị tia xạ đơn độc cũng có thể được chấp nhận cho các khối u ác tính giai đoạn I và II mặc dù các tế bào vảy chi nhạy cảm với tía xạ ở mức độ vừa phải.
- Đối với các bệnh nhân ung thư biểu mô trên thanh quản giai đoạn No hoặc Ni có thể kiểm soát khối u tại chỗ tới 86% các trường hợp nhưng tỷ lệ tái phát cũng cao tới 79%.
- Các ưu điểm của phương pháp này so với phẫu thuật là cải thiện được chức năng và thẩm mỹ.
- Điều trị tia xạ áp sát và đưa vào mô kẽ đôi khi được sử dụng cho các khối u lưỡi, môi, sàn miệng, da và niêm mạc má.
Phẫu thuật là một phần của một phương thức điều trị phối hợp, được tiến hành trước hoặc sau các phương thức khác.
- Phẫu tích cổ triệt để hoặc cải tiến nếu u lan vào hạch cổ.
- Các thủ thuật tái tạo hình rất quan trọng bổ trợ cho việc cắt bỏ khối u.
Điều trị tia xạ có vai trò đối với các khối u lớn không thể cắt bỏ nhằm điều trị tạm thời và bảo tồn tiếng nói cũng như các chức năng nuốt.
Các hóa chất phối hợp vẫn chưa chứng tỏ được là có thể kiểm soát khối u hay thời gian sống sót tốt hơn khi sử dụng đơn độc. Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân mắc bệnh giai đoạn muộn có nguy cơ di căn kín đáo và/hoặc tái phát, vì vậy hóa trị liệu vẫn đóng một vai trò trong điều trị.
- Áp dụng hóa trị liệu đối với bệnh di căn hoặc tái phát làm giảm tỷ lệ di căn xa khi được so sánh với các bệnh nhân không được điều trị bằng hóa chất.
- Các phác đồ điều trị ung thư bổ trợ gồm cisplatin và 5- FU cho đáp ứng rất tốt với tỷ lệ các di căn xa thấp hơn so với các bệnh nhân không được điều trị. Tuy vậy, thời gian sống sót vẫn không có gì thay đổi so với những bệnh nhân được điều trị với tia xạ và phẫu thuật thông thường.
- Hóa chất - tia xạ khi bệnh ở giai đoạn II hoặc III nhằm hiệp đồng làm tăng đáp ứng của khối u với điều trị, nhưng có độc tính cao.

Tìm hiểu chung về ung thư đầu cổ

Đầu - cổ là vùng có nhiều cơ quan trọng yếu như não ở trong và các cơ quan khác: mắt- tai- lưỡi- mũi vừa là ngã tư của đường ăn, đường thở và là cửa ngõ đi vào cơ thể. Chính vì vậy, vùng đầu cổ thường xuyên phải hứng chịu những loại bệnh khác nhau từ một số bệnh viêm nhiễm, đến các khối u lành tính, ác tính.

Ung thư ở vùng đầu cổ là một trong nhưng loại ung thư chiếm tỷ lệ cao trong những loại  ung thư của con người gặp phải. Nếu phát hiện sớm thì việc phẫu thuật cắt khối u phối hợp với xạ trị đem lại kết quả rất tốt, tỷ lệ sống trên 5 năm đạt trên 95%, một số trường hợp sau khi phẫu thuật có thể khỏi hoàn toàn.
Tuy nhiên, nếu không được phát hiện kịp thời khi khối u đã lan ra các tổ chức lân cận hoặc di căn, việc điều trị gặp rất nhiều khó khăn, tỷ lệ sống trên 5 năm là rất  thấp.
Ung thư vùng đầu và cổ có thể được phân chia thành nhóm nhỏ hơn tuỳ thuộc vào vị trí khối u nguyên phát theo cấu trúc giải phẫu của vùng đầu và cổ.
Những vị trí này bao gồm hố mũi, xoang quanh mũi, nền sọ, mũi hầu, khoang miệng, miệng-hầu, tuyến nước bọt, thanh quản và cổ.
Để phòng ngừa các bệnh ung thư vùng đầu cổ cần tránh hay hạn chế tối đa các yếu tố trên trong cuộc sống hàng ngày. Cụ thể: Tránh để da tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng gay gắt (nên sử dụng nón rộng vành, kem chống nắng để bảo vệ da); không sử dụng rượu và thuốc lá sẽ giúp phòng ngừa ung thư miệng, hầu, thanh quản; không ăn trầu sẽ giúp phòng ngừa ung thư môi và miệng; tránh lây nhiễm virus HPV sẽ giúp phòng ngừa ung thư miệng, amiđan; vệ sinh răng miệng tốt sẽ giúp phòng ngừa ung thư hốc miệng.

Điều trị ung thư tuyến tiền liệt theo phương pháp hiện đại.

Ung thư tuyến tiền liệt là bệnh lý ác tính. Bệnh thường thấy ở hệ sinh dục của nam giới.  Điều trị ung thư tiền liệt tuyến luôn là mối quan tấm hàng đầu của tất cả mọi người.
ung thư tuyến tiền liệt
Một số phương pháp hiện đại điều trị ung thư tuyến tiền liệt mang lại hiệu quả cao hiện nay như:
1.     Điều trị ung thư tiền liệt tuyến bằng kỹ thuật ZYT.
Kỹ thuật ZYT là kỹ thuật sử dụng công nghệ hạt nhân siêu điện trường của Mỹ. Kỹ thuật này sử dụng  nguồn năng lượng cao, nhiệt độ thấp, năng lượng điện trường cao tập chung  để bổ sung điện tính cho các tế bào trong cơ thể, giúp phục hồi hoạt tính của các tế bào, thúc đẩy tuần hoàn máu,làm căng tuyến tiền liệt.
Kỹ thuật này thực hiện qua 3 bước.
   -Bước 1. Trực tiếp sử dụng năng lượng điện trường thông minh tác động vào các tổn thương ( tuyến tiền liệt tổn thương đã lâu, triệu chứng rõ rệt, tổn thương tuyến tiền liệt do vi khuẩn…đều có thể điều trị bằng kỹ thuật này).
  - Bước 2. Sau khi điều trị bằng năng lượng điện trường thông minh tác động trực tiếp vào các tổn thương, các tế bào tuyến tiền liệt đang ở trạng thái hoạt động, tuần hoàn máu nhanh, liên tục, tiến hành phun thuốc để rửa, đẩy nhanh quá trình hấp thụ thuốc, kháng viêm.
   - Bước 3. Dựa vào sự thông nhau giữa các trùm tĩnh mạch trĩ và tĩnh mạch tiết liệu  sinh dục, điện trường  đi qua trực tràng  trực tiếp tác động đến các vùng tổn thương, tiến hành phun thuốc, củng cố quá trình điều trị.
 2. Phương pháp miễn dịch sinh học.
Miễn dịch sinh học hay còn được gọi là miễn dịch tự thân. Các tế bào đơn nhân DC, CIK được phân lập, sau đó được đưa đi và hoạt hóa, nuôi cấy trong môi trường đặc biệt, cuối cùng truyền trở lại cơ thể người bệnh. Biện pháp này có ưu điểm là giúp người bệnh tiêu diệt ung thư một cách có hệ thống, tránh tái phát và di căn.
Điều trị ung thư tiền liệt tuyến bằng kỹ thuật ZYTphương pháp miễn dịch sinh học được coi là những phương pháp điều trị ung thư tiền liệt tuyến hiện đại và hiệu qủa nhất hiện nay.
Ngoài ra còn một số biên pháp điều trị ung thư tiền liệt tuyến truyền thống như:
   - Phẫu thuật: Phẫu thuật cắt bỏ tuyến tiền liệt nếu khối u vẫn khu trú tại chỗ. Đây là phương pháp thường được chỉ định khi mắc ung thư tiền liệt tuyến. Phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ tổ chức bệnh hoặc phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ tuyến tiền liệt. Tác dụng không mong muốn của phương pháp này như bất lực hoặc bí tiểu.
   - Hóa trị: Hóa trị được sử dụng như một phương pháp để làm giảm các triệu chứng của bệnh ung thư tiền liệt tuyến khi các biện pháp khác không có hiệu quả. Bệnh nhân sẽ chấp nhận đua một số hóa chất vào cơ thể để ức chế qúa tình sản sinh thêm các tế bào ung thư mới, hạn chế tình trạng di căn. Đây là phương pháp điều trị toàn thân.
   - Xạ trị -  còn gọi là liệu pháp phóng xạ. Là cách điều trị sử dụng tia phóng xạ cao để tiêu diệt tế bào ung thư (tia X). Giống như phẫu thuật, xạ trị cũng là phương pháp điều trị tại chỗ, nó chỉ ảnh hưởng tới các tế bào ung thư ở vùng chiếu xạ. Ở giai đoạn sớm, tia xạ trị được sử dụng để điều trị các tế bào ung thư tại chỗ thay cho phẫu thuật . Xạ trị cũng được sử dụng sau phẫu thuật để tiêu diệt toàn bộ tế bào ung thư còn xót lại. Ở giai đoạn muộn xạ trị được sử dụng như một liệu pháp để giảm đau hay làm nhẹ các triệu chứng khác.
    - Liệu pháp hooc-moon. Ngăn cản quá trình tế bào ung thư lấy tế bào hooc-môn nam để phát triển.
Theo các chuyên gia của bệnh viện ung bướu Hưng Việt cho biết, ung thư tiền liệt tuyến là một căn bênh nguy hiểm, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tâm lý người bệnh và gia đình. Vì vậy việc phát hiện và điều trị sớm căn bệnh này là vô cung quan trọng.
Nguồn: http://benhvienungbuouhungviet.vn/tim-hieu-benh-ung-thu/ung-thu-tuyen-tien-liet/mot-so-phuong-phap-dieu-tri-ung-thu-tien-liet-tuyen-hien-dai.aspx

Các phương pháp điều trị ung thư tuyến tiền liệt

Phẫu thuật là phương pháp thường được sử dụng để điều trị ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn sớm. Bác sĩ có thể cắt bỏ toàn bộ tuyến tiền liệt (gọi là phẫu thuật cắt bỏ tuyến tiền liệt triệt để) hay chỉ cắt bỏ một phần. Trong một số trường hợp, bác sĩ có thể sử dụng một kỹ thuật mới được gọi là phẫu thuật giữ lại dây thần kinh. Loại phẫu thuật này có thể giữ lại những dây thần kinh điều khiển sự cương dương vật.

Điều trị ung thư tuyến tiền liệtMột số bệnh nhân được điều trị bẳng cách phối hợp các biện pháp. Bên cạnh đó, bác sĩ cũng đang nghiên cứu các phương pháp điều trị khác có thể chữa trị hiệu quả căn bệnh này. Chờ đợi có theo dõi có thể được chỉ định cho một số bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt được phát hiện ra ở giai đoạn sớm và bệnh phát triển chậm. Việc theo dõi và chờ đợi nên áp dụng cho bệnh nhân cao tuổi và bệnh nhân có những tình trạng bệnh nghiêm trọng khác. Đối với những bệnh nhân này, nguy cơ rủi ro và tác dụng phụ của phẫu thuật, tia xạ trị liệu, liệu pháp hoóc-môn có thể vượt qua những lợi ích có thể đem lại. Những bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt ở giai đoạn sớm đang tham gia vào nghiên cứu để xác định xem khi nào cần điều trị và dùng phương pháp điều trị nào thì có hiệu quả.
Phẫu thuật là phương pháp thường được sử dụng để điều trị ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn sớm. Bác sĩ có thể cắt bỏ toàn bộ tuyến tiền liệt (gọi là phẫu thuật cắt bỏ tuyến tiền liệt triệt để) hay chỉ cắt bỏ một phần. Trong một số trường hợp, bác sĩ có thể sử dụng một kỹ thuật mới được gọi là phẫu thuật giữ lại dây thần kinh. Loại phẫu thuật này có thể giữ lại những dây thần kinh điều khiển sự cương dương vật. Tuy nhiên, bệnh nhân có khối u lớn hoặc khối u quá gần dây thần kinh có thể không thể thực hiện được loại phẫu thuật này. Bác sĩ có thể mô tả các loại phẫu thuật, thảo luận và so sánh lợi ích và nguy cơ của chúng.
- Phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt qua niệu quản (TURP): Bác sĩ cắt một phần tuyến tiền liệt bằng một dụng cụ đưa qua niệu đạo. Ung thư được cắt bỏ khỏi tuyến tiền liệt bằng một dòng điện truyền qua một vòng dây nhỏ ở đầu của dụng cụ đó. Phương pháp này được sử dụng chủ yếu để cắt bỏ phần mô cản trở dòng nước tiểu. Nếu bác sĩ giải phẫu bệnh phát hiện ra tế bào ung thư trong hạch thì có khả năng bệnh đã lan sang các bộ phận khác của cơ thể. Đôi khi bác sĩ tiến hành vét hạch trước khi tiến hành cắt bỏ tuyến tiền liệt. Nếu ung thư tuyến tiền liệt chưa lan vào hạch, bác sĩ có thể cắt bỏ tuyến tiền liệt. Nếu ung thư đã lan vào hạch, tuyến tiền liệt có thể không được cắt bỏ nhưng bác sỹ có thể gợi ý các phương pháp điều trị khác.
- Tia xạ trị liệu (còn được gọi là liệu pháp phóng xạ) là cách điều trị có sử dụng tia X có năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư. Giống như phẫu thuật, tia xạ trị liệu là một phương pháp điều trị tại chỗ, nó chỉ ảnh hưởng tới những tế bào ung thư ở vùng chiếu xạ. Đối với ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn sớm, tia xạ có thể được dùng thay cho phẫu thuật hoặc được sử dụng sau phẫu thuật để tiêu diệt tất cả tế bào ung thư còn sót lại trong vùng điều trị. Ở giai đoạn muộn nó có thể được sử dụng để giảm đau hay làm nhẹ các triệu chứng khác.
Tia phóng xạ có thể do một máy chiếu trực tiếp vào cơ thể (chiếu xạ ngoài) hay nó có thể phát ra từ những hạt phóng xạ nhỏ đặt ở bên trong hay gần khối u (chiếu xạ trong hay chiếu xạ áp sát). Bệnh nhân có những khối u nhỏ thường được điều trị bằng hạt phóng xạ trong đơn độc. Một số bệnh nhân được điều trị bằng cả chiếu xạ trong và chiếu xạ ngoài. Đối với chiếu xạ ngoài, bệnh nhân đến điều trị tại bệnh viện hoặc phòng khám 5 ngày mỗi tuần trong vài tuần. Bệnh nhân có thể nằm viện trong một thời gian ngắn khi mang nguồn xạ trong cơ thể.
- Liệu pháp hoóc-môn ngăn cản tế bào ung thư lấy hoóc - môn sinh dục nam cần thiết để chúng phát triển. Phương pháp này được gọi là phương pháp điều trị toàn thân bởi nó tác dụng lên toàn bộ các tế bào ung thư trong cơ thể và được sử dụng để điều trị ung thư đã lan. Đôi khi phương pháp này được sử dụng để phòng ngừa ung thư tái phát sau phẫu thuật hay sau điều trị bằng tia phóng xạ.
Có một vài dạng hoóc - môn liệu pháp đựơc sử dụng để điều trị ung thư tuyến tiền liệt:
- Cắt bỏ tinh hoàn là phẫu thuật nhâm lấy đi nguồn sản xuất chính của hoóc-môn sinh dục nam.
- Những loại thuốc gây bài tiết hoóc-môn giải phóng hoóc- môn tạo hoàng thể (LH-RH) có thể ngăn chặn tinh hoàn sản xuất testosteron. Ví dụ như ireuprolid, goserelin và buserelin.
- Những loại thuốc kháng các androgen có thể ngăn cản hoạt động của hoóc-môn nam. Hai ví dụ là aminoglutethimid và bicalutamid.
- Những loại thuốc có thể ngăn chặn tuyến thượng thận sản xuất androgen bao gồm ketoconazol và aminoglutethimid
Sau phẫu thuật cắt tinh hoàn hay điều trị bằng một thuốc kích thích LH-RH, cơ thể không còn testosteron do tinh hoàn tiết ra nữa. Tuy nhiên các tuyến thượng thận vẫn sản xuất một lượng nhỏ hoóc-môn nam. Đôi khi bệnh nhân còn được dùng một loại thuốc kháng androgen, loại thuốc này sẽ ngăn cản tác dụng của các hoóc-môn nam còn sót lại. Phương pháp phối hợp các biện pháp điều trị này được gọi là Phương pháp chèn androgen toàn bộ. Bác sĩ không biết chắc chắn liệu điều trị bằng phương pháp chèn androgen toàn bộ có hiệu quả hơn việc điều trị đơn độc hoặc bầng phương pháp phâu thuật cát tinh hoàn hoặc bằng thuốc kích thích LR-RH hay không.

Bệnh ung thư tuyến tiền liệt khi đã lan sang các bộ phận khác có thể kiểm soát được bằnng liệu pháp hoóc-môn trong một thời gian, thường là trong vài năm. Tuy nhiên, cuối cùng thì phần lớn các khối ung thư tuyến tiền liệt vẫn có thể phát triển khi không có hoặc có rất ít hoóc-môn nam. Khi điều này xảy ra, liệu pháp hoóc-môn không còn hiệu quả nữa và bác sĩ có thể gợi ý các dạng điều trị đang được nghiên cứu khác.
Nguồn: http://benhvienungbuouhungviet.vn/tim-hieu-benh-ung-thu/ung-thu-tuyen-tien-liet/dieu-tri-ung-thu-tien-liet-tuyen.aspx