ung thư tế bào máu

Hiển thị các bài đăng có nhãn ung thư tế bào máu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ung thư tế bào máu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 18 tháng 12, 2014

Điều trị ung thư tế bào máu

Hầu hết bệnh nhân bị bệnh ung thư tế bào máu được điều trị bằng hóa chất. Một số bệnh nhân còn được điều trị bảng tia phóng xạ hoặc ghép tủy xương hoặc liệu pháp sinh học. Trong một số trường hợp, phẫu thuật cắt lách có thể là một phần trong phác đồ điều trị.

Các phương pháp sau được dùng để điều trị ung thư tế bào máu được sử dụng phổ biến hiện nay:
Hóa trị liệu là phương pháp sử dụng thuốc để tiêu diệt tế bào ung thư. Tùy thuộc vào loại ung thư tế bào máu, bệnh nhân có thể được điều trị bằng một loại thuốc đơn độc hoặc phối hợp hai hay nhiều loại thuốc.
Một số thuốc chống ung thư dùng đường uống. Còn lại hầu hết các thuốc được tiêm truyền tĩnh mạch. Thông thường thuốc được tiêm truyền vào tĩnh mạch qua một ống thông đặt vào một tĩnh mạch lớn (tĩnh mạch cảnh trong hoặc tĩnh mạch dưới đòn). Nhờ đó tránh cho bệnh nhân khỏi bị đau đớn và các tổn thương da khi phải tiêm nhiều lần.
Thuốc chống ung thư đi vào cơ thể qua đường tiêm hoặc uống sẽ theo mạch máu tới hầu khắp cơ thể để diệt các tế bào ung thư. Tuy nhiên, thuốc thường không tiếp cận được các tế bào ung thư trong hệ thần kinh trung ương do bị hàng rào máu-não ngăn lại. Hàng rào bảo vệ này được cấu tạo từ một mạng lưới mạch máu và có nhiệm vụ lọc dòng máu đến não và tủy sống. Để tiếp cận được những tế bào ung thư trong hệ thần kinh trung ương, thuốc chống ung thư được tiêm trực tiếp vào dịch não tủy. Có hai cách để đưa thuốc vào dinh não tủy. Một số bệnh nhân được đưa thuốc vào tủy sống (phần thắt lưng). Một số khác, đặc biệt là trẻ em, được đặt một loại ống thông đặc biệt, gọi là ống dự trữ Ommaya, đưa vào dưới da đầu để tạo một con đường vào dịch não tủy. Người ta tiêm thuốc chống ung thư vào ống dự trữ này thay cho tiêm vào tủy sống và như vậy có thể thực hiện việc điều trị một cách dễ dàng hơn và bệnh nhân cảm thấy thoải mái hơn.
Hóa chất được sử dụng thành từng đợt: một đợt điều trị, sau đó là một đợt nghỉ hồi sức tiếp đến một đợt điều trị khác... Trong một số trường hợp, bệnh nhân được điều trị bằng hóa chất ngoại trú ở bệnh viện, tại phòng khám của bác sĩ hoặc tại nhà. Tuy nhiên, tùy thuộc vào loại thuốc điều trị và tình trạng sức khỏe chung, bệnh nhân có thể phải nằm viện trong một thời gian ngắn.
Liệu pháp chiếu xạ được kết hợp với hóa trị liệu cho một số loại bệnh ung thư tế bào máu. Xạ trị sử dụng các tia có năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư và ngăn chúng phát triển. Phóng xạ có thể được chiếu từ một máy lớn.
Xạ trị để điều trị bệnh bạch cầu có thể được tiến hành theo hai cách. Đối với một số bệnh nhân, bác sĩ có thể chiếu xạ cho một vùng cụ thể trên cơ thể nơi tập trung tế bào ung thư máu, như lách hoặc tinh hoàn. Một số bệnh nhân khác được chiếu xạ toàn thân. Chiếu xạ toàn thân thường được thực hiện trước khi ghép tủy xương.
Ghép tủy xương cũng được chỉ định cho một số bệnh nhân. Tủy xương sản xuất ra tế bào ung thư máu của người bệnh bị phá hủy bằng thuốc và phóng xạ liều cao, sau đó được thay thế bằng tủy xương lành. Tủy xương lành có thể là do một người khác cho hoặc có thể là lấy từ chính bệnh nhân. Tủy xương sản xuất ra tế bào ung thư máu của người bệnh bị phá hủy bằng thuốc và phóng xạ liều cao, sau đó được thay thế bằng tủy xương lành. Tủy xương lành có thể là do một người khác cho hoặc có thể là lấy từ chính bệnh nhân và được cất giữ, bảo quản trước khi bị phá hủy. Nếu sử dụng chính tủy xương của người bệnh thì lúc đầu cần phải xử lý nó bên ngoài cơ thể để loại bỏ tế bào ung thư. Bệnh nhân được ghép tủy xương thường phải nằm viện trong vài tuần. Bệnh nhân cần được bảo vệ cẩn thận tránh nhiễm khuẩn cho đến khi tủy xương ghép có thể sản xuất đủ lượng bạch cầu.
Liệu pháp sinh học là phương pháp sử dụng các chất ảnh hưởng tới đáp ứng của hệ thống miễn dịch lên ung thư. Interferon là một dạng của liệu pháp miễn dịch để chống lại một số loại ung thư tế bào máu. Rất khó hạn chế được tác dụng của điều trị chỉ lên các tế bào ung thư. Do điều trị còn phá hủy các mô và tế bào lành nên nó cũng gây ra các tác dụng phụ.

Chẩn đoán ung thư tế bào máu

Trong y học, bệnh ung thư máu còn được gọi là bệnh bạch cầu. Đây là một bệnh vô cùng nguy hiểm đối với hệ thống máu nói riêng và sức khỏe nói chung. Bệnh ung thư tế bào máu thường đi kèm với sự sụt giảm, triệt tiêu lớn số lượng các tế bào máu (hồng cầu). Tỷ lệ tử vong ở các bệnh nhân mắc bệnh này rất cao.
Để tìm ra nguyên nhân của các triệu chứng, bác sĩ sẽ khai thác tiền sử bệnh sử của bệnh nhân và tiến hành khám lâm sàng. Bên cạnh việc kiểm tra các dấu hiệu sức khỏe chung, bác sĩ còn khám gan, lách, các hạch ở nách, bẹn và cổ.
Xét nghiệm máu cũng giúp cho việc chẩn đoán. Mẫu máu được quan sát dưới kính hiển vi để xem hình dạng tế bào máu và xác định số lượng tế bào trưởng thành và số lượng tế bào non (nguyên bào). Mặc dù xét nghiệm máu có thể cho biết bệnh nhân bị bệnh ung thư tế bào máu, nhưng không xác định được là loại ung thư tế bào máu gì.
Để xét nghiệm kỹ hơn về tế bào ung thư máu hoặc xác định loại ung thư tế bào máu, bác sỹ chuyên khoa huyết học, chuyên khoa ung thư hoặc chuyên gia bệnh học phải quan sát tủy xương dưới kính hiển vi. Mẫu bệnh phẩm được lấy bằng cách chọc hút tủy xương ở các xương dẹt (thường là xương chậu). Khi cần thiết có thể phải sinh thiết tủy xương bằng kim lớn hơn để lấy ra một mảnh xương và tủy xương nhỏ. Nếu phát hiện ra tế bào ung thư máu trong mẫu tủy xương, bác sĩ sẽ chỉ định các xét nghiệm khác để xác định phạm vi của bệnh. Chọc lấy dịch tủy sống giúp phát hiện tế bào ung thư trong dịch não tủy. Chụp X quang lồng ngực có thể phát hiện các dấu hiệu bệnh trong lồng ngực.

Khám định kỳ sau điều trị ung thư tế bào máu

Hiện nay, người ta còn chưa xác định được chính xác các nguyên nguyên nhân gây ung thư máu.
http://benhvienungbuouhungviet.vn/tim-hieu-benh-ung-thu/ung-thu-te-bao-mau/kham-dinh-ky-theo-doi-sau-dieu-tri-ung-thu-te-bao-mau.aspx

Các nghiên cứu chỉ ra một số yếu tố nguy cơ được coi là nguyên nhân gây bệnh hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh, bao gồm:
- Tia xạ: Những người tiếp xúc với tia phóng xạ liều cao sẽ có nguy cơ cao hơn bị bệnh bạch cầu tủy cấp tính, bạch cầu tủy mạn tính, bạch cầu lympho cấp tính. Người có tiền sử được điều trị bằng tia xạ trị khi điều trị ung thư hoặc các bệnh khác từ trước cũng có nguy cơ cao hơn bị bệnh bạch cầu. Tuy nhiên, khi chụp tia X trong chẩn đoán răng hàm mặt hoặc các biện pháp chụp X quang chẩn đoán khác (như CT Scan) người ta tiếp xúc tia X với hàm lượng ít hơn nhiều. Hiện tại vẫn chưa xác định mối liên quan giữa sự tiếp xúc với nồng độ tia thấp với bệnh bạch cầu cấp ở trẻ em và người lớn (Xquang nhiều lần hoặc chụp cắt lớp khi còn nhỏ).
- Hút thuốc lá: Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng hút thuốc lá làm tăng nguy cơ mắc bệnh bạch cầu tủy cấp tính.
- Benzen: Chất này được sử dụng nhiều trong công nghiệp hóa chất, có nhiều trong khói thuốc lá và khí đốt. Việc tiếp xúc nhiều với benzen có thể làm tăng nguy cơ bị bệnh bạch cầu tủy mạn tính, bệnh bạch cầu lympho cấp tính.
- Tiền sử điều trị hóa chất: Một số bệnh nhân ung thư được điều trị hóa chất (như các chất alkyl hóa, các chất ức chế topoisomerase) về sau có thể bị mắc bệnh bạch cầu tủy cấp tính hoặc bệnh bạch cầu lympho cấp tính.
- Hội chứng Down và một số bệnh di truyền khác có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư máu cấp tính.
- Hội chứng rối loạn sinh tủy và một số bệnh bất thường về máu khác cũng làm tăng nguy cơ bị bạch cầu cấp tính.
- Tiền sử gia đình: Rất hiếm khi có trên một người trong gia đình bị ung thư máu. Nếu có thì chủ yếu là thể bệnh bạch cầu lympho mạn tính.
Khám theo dõi định kỳ sau khi điều trị ung thư tế bào máu là rất quan trọng. Bác sĩ sẽ tiếp tục theo dõi bệnh nhân chặt chẽ để chắc chắn ung thư không tái phát. Việc khám định kỳ bao gồm xét nghiệm máu, tủy xương và dịch não tủy. Thỉnh thoảng, bác sĩ tiến hành khám toàn bộ.
Việc điều trị ung thư máu có thể gây tác dụng phụ sau nhiều năm. Do vậy bệnh nhân cần được tiếp tục khám và theo dõi đều đặn cũng như cần thông báo bất kỳ vấn đề gì bất thường về sức khỏe của mình cho bác sỹ biết càng sớm càng tốt.

Nguy cơ gây ra ung thư tế bào máu

Cho tới hiện nay, chúng ta vẫn chưa xác định được nguyên nhân nào gây bệnh ung thư tế bào máu. Các nhà nghiên cứu đang cố gắng giải quyết vấn đề này. Các nhà khoa học biết rằng bệnh xuất hiện ở nam giới nhiều hơn ở nữ giới và ở người da trắng nhiều hơn người da đen. Tuy nhiên, họ không thể giải thích tại sao người này mắc bệnh còn người khác lại không. 

Bằng cách nghiên cứu một số lượng lớn người dân trên toàn thế giới, các nhà nghiên cứu đã tìm ra một số yếu tố nguy cơ nhất định làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư tế bào máu. Ví dụ, việc tiếp xúc với một lượng lớn bức xạ có năng lượng cao làm tăng nguy cơ phát triển bệnh. Hiện tượng bức xạ này được tạo ra do các vụ nổ bom nguyên tử ở Nhật Bản trong Chiến tranh Thế giới thứ 2. Trong các nhà máy điện nguyên tử, các quy định an toàn nghiêm ngặt phải được thực hiện để bảo vệ công nhân và người dân tránh bị phóng xạ gây hại.
Theo một số nghiên cứu thì việc tiếp xúc với trường điện từ là một yếu tố nguy cơ có thể gây bệnh ung thư tế bào máu. Trường điện từ là một dạng bức xạ năng lượng thấp tỏa ra từ dây điện và các thiết bị điện. Tuy nhiên, cần phải tiếp tục nghiên cứu để chứng tỏ mối liên hệ này.
Một số tình trạng di truyền nhất định có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư tế bào máu. Hội chứng Đao (Down) là một trong những tình trạng như vậy; trẻ em bị hội chứng này khi sinh ra có nguy cơ mắc bệnh ung thư tế bào máu cao hơn những trẻ em khác.
Công nhân tiếp xúc với một số chất hóa học nhất định trong một thời gian dài có nguy cơ mắc bệnh ung thư tế bào máu cao hơn. Benzen là một trong những hóa chất này. Hơn nữa, một số loại thuốc được sử dụng để điều trị các loại ung thư khác có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Tuy nhiên, nguy cơ này rất nhỏ so với lợi ích mà hóa trị liệu mang lại.
Các nhà khoa học đã tìm ra một loại virút dường như có khả năng làm tăng nguy cơ phát triển một loại ung thư tế bào máu hiếm gặp. Tuy nhiên, loại virút này chưa được chứng minh là có liên quan tới các loại ung thư tế bào máu thường gặp. Các nhà khoa học trên toàn thế giới vẫn tiếp tục nghiên cứu các virút và các yếu tố nguy cơ khác có thể gây bệnh ung thư tế bào máu. Qua việc tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh, các nhà khoa học hi vọng sẽ tìm ra các phương pháp phòng ngừa và điều trị bệnh ung thư tế bào máu tốt hơn.

Ung thư tế bào máu

Ung thư máu là khi cơ thể sản xuất ra một lượng lớn máu bất thường. Bệnh được gọi bằng tiếng nước ngoài phiên âm là Lơ-xê-mi (leucemia). Trong hầu hết các loại ung thư tế bào máu, các tế bào bất thường là bạch cầu. Máu bị ung thư tế bào trông khác với máu bình thường và không thực hiện được chức năng của chúng.
 
Các loại ung thư tế bào máu
Có nhiều loại ung thư tế bào máu. Chúng được phân nhóm theo hai cách. Cách thứ nhất là phân loại theo theo tốc độ tiến triển và xấu đi của bệnh. Cách thứ hai là phân loại theo loại tế bào máu bị bệnh.
Ung thư tế bào máu có thể là cấp tính hoặc mạn tính. Trong ung thư tế bào máu cấp, các tế bào bất thường là các nguyên bào còn rất non và không thể thực hiện chức năng bình thường của mình. Số lượng nguyên bào tăng lên rất nhanh và bệnh xấu đi nhanh chóng. Trong bệnh ung thư tế bào máu mạn tính, một số nguyên bào xuất hiện, nhưng nói chung những tế bào này có độ trưởng thành cao hơn và có thể thực hiện được một số chức năng bình thường của chúng. Hơn nữa, số lượng nguyên bào tăng chậm hơn so với mức độ tăng trong bệnh ung thư tế bào máu cấp tính. Kết quả là bệnh ung thư tế bào máu mạn tính xấu đi dần dần.
Bệnh ung thư tế bào máu có thể xuất phát từ hai loại bạch cầu chính là tế bào lymphô hoặc tế bào tủy. Khi bệnh ảnh hưởng tới tế bào lymphô thì nó được gọi là bệnh ung thư tế bào máu dòng lymphô bào. Khi tế bào tủy bị ảnh hưởng thì loại ung thư này được gọi là ung thư tế bào máu dòng tủy.
Dưới đây là các loại ung thư tế bào máu thường gặp nhất:
- Ung thư tế bào máu dòng lymphô cấp tính (ALL) là loại thường gặp nhất ở trẻ em. Căn bệnh này cũng gặp ở người lớn, đặc biệt là những người trên 50 tuổi.
- Ung thư tế bào máu dòng tủy cấp tính (AML) xuất hiện ở cả người lớn và trẻ em. Loại này đôi khi còn được gọi là ung thư tế bào máu cấp tính không phải dòng lymphô bào (ANLL).
- Ung thư tế bào máu dòng lymphô mãn tính (CLL) thường xuất hiện nhiều nhất ở những người trên 55 tuổi. Đôi khi nó xuất hiện ở những người trẻ tuổi hơn, nhưng hầu như không bao giờ gặp ở trẻ em.
- Ung thư tế bào máu dòng tủy mãn tính (CML) xuất hiện chủ yếu ở người lớn. Một số lượng rất nhỏ trẻ em cũng có thể mắc loại ung thư này.
- Ung thư tế bào máu ở trẻ em.