ung thư buồng trứng

Hiển thị các bài đăng có nhãn ung thư buồng trứng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ung thư buồng trứng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 14 tháng 1, 2015

Đau bụng có là dấu hiệu của ung thư buồng trứng không?

Hầu hết phụ nữ bị ung thư buồng trứng gặp những triệu chứng không đặc hiệu như đau bụng, khối bất thường vùng bụng, trướng bụng, đau lưng, tiểu gấp, tiêu chảy, táo bón hay mệt mỏi.
Một số phụ nữ khác có những triệu chứng cụ thể hơn như đau vùng khung chậu, chảy máu bất thường ở vùng âm đạo hay giảm cân không rõ nguyên nhân.
Buồng trứng là bộ phận trong hệ sinh sản của nữ, nằm ở khu vực xương chậu. Chúng sản xuất trứng và trứng sẽ đi đến tử cung thông qua vòi trứng. Ung thư buồng trứng là căn bệnh gây ra bởi sự phát triển và phân chia nhanh của các tế bào trong một hay cả hai buồng trứng.
Các bác sĩ, chuyên gia tư vấn ung thư nội khoa của bệnh viện  cho biết theo quy luật, những tế bào già và không cần thiết đối với cơ thể sẽ chết. Tuy nhiên, nếu những tế bào này không chết theo quy luật đó sẽ hình thành và phát triển thành khối u. Hầu hết những khối u này lành tính và không lan rộng trên buồng trứng. “Ung thư buồng trứng xảy ra khi xuất hiện khối u ác tính (ung thư) ở buồng trứng, nguy cơ lan rộng đến cả vòi trứng, tử cung và những cơ quan khác trong cơ thể như gan và phổi”, bác sĩ Toh giải thích. Để chẩn đoán ung thư buồng trứng, cần tiến hành một số xét nghiệm như: xét nghiệm máu, kiểm tra vùng chậu, siêu âm và sinh thiết. Thông thường bác sĩ sẽ có chỉ định phẫu thuật với bệnh nhân ung thư buồng trứng.
Hầu hết bệnh nhân sau khi phẫu thuật thường có thêm chỉ định điều trị bổ sung như hóa trị hay hóa trị kết hợp xạ trị. Phẫu thuật giúp xác định chính xác giai đoạn của khối u, đưa ra chẩn đoán chính xác và loại bỏ khối u ung thư nhiều nhất có thể. "Đối với những bệnh nhân không còn sót lại khối u hay khối u nhỏ hơn 1 cm, khả năng chữa khỏi rất cao”, chuyên gia tư vấn ung thư nội khoa của bệnh viện cho biết. Phương pháp hóa trị trong điều trị ung thư đã đạt được những tiến bộ trong những năm gần đây giúp tăng khả năng chữa khỏi bệnh cũng như kéo dài tuổi thọ cho bệnh nhân.
Tìm hiểu thêm về ung thư buồng trứng tại : http://benhvienungbuouhungviet.vn/tim-hieu-benh-ung-thu/ung-thu-buong-trung.aspx

Những điểm nổi bật của triệu chứng ung thư buồng trứng

Ung thư là một căn bệnh rất nguy hiểm, hầu hết đều được phát hiện khi đã quá muộn do đó tỷ lệ chữa khỏi không cao. Tâm lý chung của mọi người là cho dù có nghi ngờ bị bệnh nhưng vì lo sợ nên vẫn trốn tránh, không dám đi khám. Các triệu chứng bị đầy hơi, ăn khó tiêu, trướng, đau ở vùng bụng, người mệt mỏi… tuy về cơ bản thì giống với một số dấu hiệu của bệnh ung thư buồng trứng, tuy nhiên không thể khẳng định chắc chắn, cũng có thể đó chỉ là triệu chứng của các bệnh về đường tiêu hóa thông thường. 
Dưới đây là các triệu chứng của ung thư buồng trứng mà các bạn có thể tham khảo:
-       Vùng bụng khó chịu (ấm ách, căng trướng) hoặc đau
-       Buồn nôn, tiêu chảy, táo bón hoặc thường xuyên đi tiểu
-       Đau lưng, mỏi cổ
-       Đầy hơi , khó tiêu
-       Tăng hoặc giảm cân không rõ lý do
-       Ăn kém
-       Chảy máu âm đạo bất thường
Nếu trong gia đình đã từng có người bị bệnh ung thư buồng trứng nên nguy cơ bị bệnh của bạn sẽ cao hơn. Việc bạn cần làm bây giờ đó là đến các bệnh viện có chuyên môn về điều trị ung bướu để tầm soát ung thư, giải tỏa tâm lý lo lắng cũng như có phương pháp điều trị sớm nếu kết quả xấu.
Tuy nhiên, nếu trong trường hợp bạn không bị bệnh ung thư buồng trứng thì việc đi tầm soát ung thư 6 tháng 1 lần cũng là điều cần thiết mà bạn nên làm.
Hiện nay, Bệnh viện Ung Bướu Hưng Việt đã hợp tác cùng với các bác sĩ chuyên khoa ung bướu hàng đầu  để điều trị ung thư cho các bệnh nhân theo tiêu chuẩn quốc tế ngay tại Việt Nam. Bệnh viện cũng đã trang bị đầy đủ các thiết bị máy móc phục vụ cho việc tầm soát và điều trị ung thư, do đó bạn có thể đến trực tiếp bệnh viện để tầm soát cũng như để được các bác sĩ tư vấn và đưa ra những lời khuyên hữu ích nhất.

Thứ Ba, 13 tháng 1, 2015

Triệu chứng của bệnh ung thư buồng trứng

Nhiều phụ nữ mắc ung thư buồng trứng bị chẩn đoán nhầm là hội chứng ruột kích thích, căng thẳng, nhiễm trùng đường tiểu... do triệu chứng tương tự nhau.
Dưới đây là một số triệu chứng ung thư buồng trứng mà bạn cần biết.
1. Mệt mỏi
Cảm thấy mệt mỏi là một trải nghiệm tự nhiên của nhiều người. Nếu bạn thường xuyên cảm thấy mệt mỏi, điều này là không bình thường, đặc biệt thường xuyên mệt mỏi khi không làm việc quá sức.
Cảm thấy mệt mỏi liên tục và thiếu năng lượng là một trong những dấu hiệu chứng tỏ có điều gì không ổn xảy ra trong cơ thể bạn. Luôn luôn mệt mỏi có thể là một dấu hiệu của bệnh ung thư nói chung, trong đó có ung thư buồng trứng. Vì vậy, thường xuyên cảm thấy mệt mỏi không  lý do bạn nên ngay lập tức đến tham khảo ý kiến bác sĩ.
Phụ nữ có thể thỉnh thoảng cảm thấy đau ở vùng xương chậu hoặc xương hông. Khi cơn đau ở xương chậu không ngay lập tức biến mất hoặc kéo dài, thì bạn nên chú ý. Đau ở vùng xương chậu cũng có thể là một trong những triệu chứng của ung thư buồng trứng. Nếu vùng xương chậu ngày càng đau đớn, hãy đến gặp bác sĩ ngay. 
2. Đau ở vùng xương chậu
Ngoài cơn đau ở xương chậu, một trong những triệu chứng của ung thư buồng trứng là đau ở lưng dưới liên quan đến xương chậu.
3. Táo bón
Táo bón có thể xảy ra cho bất cứ ai. Táo bón thường bị bỏ qua, vì nguyên nhân thường là do thiếu chất xơ, chất lỏng. Táo bón cũng có thể là triệu chứng của bệnh ung thư buồng trứng.
Ung thư buồng trứng và những thay đổi trong ruột thường xảy ra cùng một lúc. Nếu bạn gặp vấn đề với hệ thống tiêu hóa như táo bón, tiêu chảy, tăng lượng khí, đầy hơi, buồn nôn và nôn, không nên bỏ qua các triệu chứng này của cơ thể.
4. Chán ăn
Chán ăn là một triệu chứng phổ biến của tất cả các loại ung thư, bao gồm ung thư buồng trứng. Hầu hết mọi người không nhận ra rằng sự thèm ăn giảm có thể là dấu hiệu của một vấn đề, thậm chí ung thư. Nếu bạn cảm thấy chán ăn, bạn nên đi kiểm tra vì có thể đây là triệu chứng của bệnh ung thư khác.
Ngoài ăn mất ngon, một trong những triệu chứng của ung thư buồng trứng là cảm giác no nhanh hơn. Điều này sẽ làm cho phụ nữ giảm cân đáng kể mà không có lý do rõ ràng.
5. Đi tiểu thường xuyên
Đi tiểu thường xuyên và cảm giác muốn đi tiểu không kiểm soát có thể là một triệu chứng của nhiều bệnh như các vấn đề bàng quang, đường tiết niệu, hoặc thậm chí là các triệu chứng của đường huyết cao. Đi tiểu thường xuyên cũng có thể là một trong những triệu chứng của ung thư buồng trứng.
Phụ nữ đi tiểu thường xuyên và rất khó để nhịn tiểu trong một thời gian ngắn, có thể do suy yếu cơ vùng chậu hay nhiễm trùng đường tiết niệu. Nếu điều này tiếp tục, hãy ngay lập tức liên hệ với bác sĩ, bởi vì đây cũng là một trong những triệu chứng quan trọng của bệnh ung thư buồng trứng.
6. Đau khi quan hệ tình dục
Phụ nữ thường đau khi quan hệ là do âm đạo chưa thực sự sẵn sàng và chưa được thực sự được bôi trơn khi thâm nhập.  Đau khi quan hệ cũng là biểu hiện của một số bệnh.
Những phụ nữ mắc bệnh ung thư buồng trứng giai đoạn phát triển thường bị đau trong quá trình quan hệ tình dục. Cơn đau khi quan hệ thường xuất hiện ở bên phải hoặc bên trái của khung xương chậu. Nếu bạn có cảm giác lạ và đau đớn khi quan hệ, hãy tham khảo ý kiến của bác sĩ.
7. Đầy hơi
Cảm giác đầy hơi là khá bình thường và bất cứ ai cũng từng trải qua. Đầy hơi có thể xuất phát từ một số chất lỏng hoặc chất khí trong dạ dày. Bạn bị đầy hơi và khó chịu ở bụng kéo dài, nên thận trọng. Cảm giác đầy hơi liên tục là một trong những triệu chứng ung thư buồng trứng.
Khi bệnh trở nên trầm trọng hơn, triệu chứng đầy hơi sẽ kéo dài và nghiêm trọng hơn. Kích thước của dạ dày sẽ lớn hơn và các triệu chứng khác sẽ xuất hiện. Nếu điều này xảy ra, bạn phải ngay lập tức đi khám bác sĩ.
Các triệu chứng trên có vẻ rất bình thường và cũng có thể là một phần của các bệnh khác. Tuy nhiên, khi bạn có đồng thời tất cả những triệu chứng trên nên ngay lập tức đến gặp bác sĩ. Bệnh được phát hiện sớm hơn, khả năng chữa khỏi sẽ cao hơn.
Tìm hiểu thêm về ung thư buồng trứng: http://benhvienungbuouhungviet.vn/tim-hieu-benh-ung-thu/ung-thu-buong-trung.aspx

Thứ Hai, 15 tháng 12, 2014

Các yếu tố nguy cơ của ung thư buồng trứng

Chẩn đoán ung thư buồng trứng dựa vào việc khám lâm sàng và các phương tiện cận lâm sàng. Hiện nay vẫn chưa biết nguyên nhân chính xác gây ra ung thư buồng trứng. Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy các yếu tố nguy cơ của ung thư buồng trứng dưới đây có thể làm tăng khả năng mắc bệnh:
Các gen BRCA1 và BRCA2 thấy trong gia đình nhiều người bị ung thư vú. Phụ nữ mang đột biến các gen này cũng tăng nguy cơ ung thư buồng trứng.

Tiền sử gia đình: Những người thân có quan hệ gia đình cấp I (mẹ, con gái, chị hoặc em gái) với người phụ nữ bị bệnh ung thư buồng trứng có nguy cơ bị bệnh cao hơn. Khả năng mắc bệnh đặc biệt cao nếu có từ hai người thân cấp I trở lên bị mắc căn bệnh này. Nguy cơ mắc bệnh có phần ít hơn, nhưng vẫn cao hơn mức trung bình, nếu những người thân khác (bà, cô, chị em họ) mắc ung thư buồng trứng. Tiền sử gia đình có ung thư vú hoặc ung thư đại tràng cũng gắn với tăng nguy cơ ung thư buồng trứng.
Độ tuổi: Nguy cơ mắc ung thư buồng trứng tăng lên khi người phụ nữ già đi. Hầu hết các trường hợp ung thư buồng trứng xuất hiện ở những phụ nữ trên 50 tuổi, nguy cơ mắc bệnh cao nhất là ở những phụ nữ trên 60 tuổi.
Sinh con: Những phụ nữ chưa bao giờ sinh con có khả năng mắc bệnh nhiều hơn những phụ nữ đã sinh con. Thực tế cho thấy phụ nữ càng có nhiều con thì nguy cơ mắc bệnh ung thư buồng trứng càng ít.
Tiền sử cá nhân: Phụ nữ đã bị ung thư vú hoặc đại tràng có nguy cơ mắc ung thư buồng trứng cao hơn những phụ nữ không bị ung thư vú hay ung thư đại tràng.
Thuốc kích thích sinh sản: Thuốc kích thích rụng trứng có thể làm tăng nhẹ nguy cơ mắc ung thư buồng trứng. Các nhà nghiên cứu đang xem xét mối quan hệ có thể này.
Bột tan: Một số nghiên cứu chỉ ra rẳng những phụ nữ sử dụng bột tan (phấn) ở vùng sinh dục trong nhiều năm có thể có nguy cơ mắc bệnh cao hơn.
Điều trị hoóc-môn thay thế: Một số bằng chứng cho thấy phụ nữ sử dụng hoóc-môn sau thời kỳ mãn kinh có nguy cơ mắc ung thư buồng trứng tăng nhẹ.
Khi chúng ta biết được nhiều hơn về các nguyên nhân sinh ung thư buồng trứng thì chúng ta cũng biết làm thế nào để làm giảm khả năng mắc bệnh này. Một số nghiên cứu cho thấy cho con bú và dùng thuốc tránh thai có thể làm giảm nguy cơ mắc ung thư buồng trứng. Các biện pháp này làm giảm số lần phóng noãn, và các nghiên cứu cho rằng giảm số lần phóng noãn có thể làm giảm nguy cơ mắc ung thư buồng trứng.
Những phụ nữ đã được phẫu thuật tránh thai như thắt vòi trứng hoặc cắt tử cung sẽ có ít nguy cơ mắc ung thư buồng trứng. Thêm vào đó, 1 số nghiên cứu cho thấy giảm lượng mỡ trong khẩu phần ăn có thể sẽ là giảm nguy cơ mắc ung thư buồng trứng.
Những phụ nữ có nguy cơ cao do có tiền sử gia đình có thể được xem xét để cắt buồng trứng dự phòng. Phẫu thuật này trong nhiều trường hợp (nhưng không phải tất cả) đã phòng ngừa được bệnh. Các nguy cơ và tai biến của phẫu thuật cũng nên được cân nhắc kỹ lưỡng. Mỗi phụ nữ nên thảo luận kỹ với bác sỹ về lợi ích và nguy cơ trong từng hoàn cảnh cụ thể.
Điều đáng lưu ý là có 1 hay nhiều trong số các yếu tố nguy cơ nêu trên không có nghĩa là chắc chắn người phụ nữ đó sẽ bị ung thư buồng trứng, nhưng khả năng mắc phải sẽ cao hơn bình thường. Những chị em quan tâm đến bệnh có thể nói chuyện với các thầy thuốc chuyên khoa như bác sĩ phụ khoa, bác sĩ phụ khoa ung thư hoặc bác sĩ nội khoa ung thư. Bác sĩ có thể gợi ý các cách làm giảm khả năng mắc bệnh và có thể đưa ra 1 kế hoạch, 1 lịch trình kiểm tra sức khỏe cụ thể.

Điều trị ung thư buồng trứng

Để xác định mức độ thực tế của ung thư buồng trứng, thăm dò phẫu thuật hay xác định giai đoạn là cần thiết. Trong quá trình này, bác sĩ sẽ kiểm tra màng bụng, là lớp lót bên trong của bụng. Dịch trong bụng được gửi đi xét nghiệm với việc phân tích dưới kính hiển vi. Ngoài việc xác định giai đoạn của ung thư, mục đích của phẫu thuật là để loại bỏ càng nhiều khối u càng tốt. Thường thì điều này bao gồm cắt bỏ buồng trứng, tử cung và hệ bạch huyết xung quanh nó.

Điều trị ung thư buồng trứng bổ sung sau phẫu thuật sẽ được xác định bởi giai đoạn của bệnh, mức độ của bệnh và loại ung thư. Đối với bệnh giai đoạn rất sớm và các loại không xâm lấn, việc điều trị tiếp theo có thể không cần thiết. Đối với các loại ung thư xâm lấn và tiến triển nặng hơn, hóa trị là lựa chọn điều trị tốt nhất.
1. Điều trị ung thư buồng trứng
Việc điều trị ung thư buồng trứng tùy thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm diễn biến bệnh và sức khỏe chung của bệnh nhân. Bệnh nhân thường được điều trị bởi một nhóm các chuyên gia. Nhóm này có thể bao gồm một bác sĩ phụ khoa, một bác sĩ ung thư phụ khoa, một bác sĩ ung thư nội khoa và/hoặc một bác sĩ tia xạ. Nhiều phương pháp khác nhau được kết hợp trong điều trị ung thư buồng trứng.
Phẫu thuật là phương pháp điều trị ban đầu thường được sử dụng để điều trị cho bệnh nhân được chẩn đoán ung thư buồng trứng. Buồng trứng, vòi dẫn trứng, tử cung và cổ tử cung thường được cắt bỏ. Phẫu thuật này được gọi là phẫu thuật cắt tử cung cùng với buồng trứng-vòi dẫn trứng hai bên. Thông thường, bác sĩ phẫu thuật còn cắt bỏ mạc nối và hạch trong ổ bụng.
Phân giai đoạn trong khi phẫu thuật (để phát hiện xem ung thư đã lan chưa) thường liên quan tới việc vét hạch, lấy mẫu mô ở cơ hoành và các cơ quan khác trong ổ bụng và dịch cổ trướng. Nếu ung thư đã lan, bác sĩ thường cô' gắng cắt bỏ hết tế bào ung thư trong một quá trình gọi là phẫu thuật cắt bỏ tối đa khối u. Phẫu thuật cắt bỏ tối đa khối u làm giảm lượng tế bào ung thư phải điều trị sau này bằng hóa chất hoặc tia phóng xạ.
Hóa trị liệu là dùng thuốc để tiêu diệt tế bào ung thư. Có thể áp dụng hóa trị liệu để tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót lại trong cơ thể sau khi phẫu thuật, để kiểm soát sự tăng trưởng của khối u hoặc làm giảm nhẹ triệu chứng của bệnh.
Hầu hết các loại thuốc điều trị ung thư được tiêm vào tĩnh mạch. Thuốc có thể tiêm trực tiếp vào tĩnh mạch hoặc qua catheter, một ống mảnh. Đặt ống thông vào một tĩnh mạch lớn và lưu lại tại chỗ trong thời gian cần thiết. Một số loại thuốc điều trị ung thư ở dạng viên uống. Dù những loại thuốc này được tiêm vào tĩnh mạch hay uống cũng đều đi vào mạch máu và tuần hoàn khắp cơ thể.
Một cách khác để thực hiện hóa trị liệu là đưa thuốc trực tiếp vào ổ bụng qua một ống thông. Bằng phương pháp này, được gọi là hóa trị liệu trong phúc mạc, hầu hết các thuốc được giữ lại trong ổ bụng.
Sau khi hóa trị liệu kết thúc, có thể tiến hành phẫu thuật xét nghiệm lần hai để quan sát ổ bụng trực tiếp. Bác sĩ phẫu thuật có thể lấy dịch và mẫu mô để xem thuốc điều trị ung thư có tác dụng không.
Tia xạ trị liệu, còn được gọi là liệu pháp phóng xạ, là phương pháp sử dụng tia có năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư. Tia xạ trị liệu chi ảnh hưởng tới tế bào ở vùng chiếu xạ. Tia phóng xạ có thể xuất phát từ một máy (phóng xạ ngoài). Một số bệnh nhân được điều trị bâng tia phóng xạ trong màng bụng trong đó dung dịch phóng xạ được đưa trực tiếp vào ổ bụng qua một ống thông.
Thử nghiệm lâm sàng để đánh giá các phương pháp điều trị ung thư mới là một lựa chọn điều trị quan trọng cho nhiều bệnh nhân ung thư buồng trứng. Trong một số nghiên cứu tất cả bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp mới. Trong những nghiên cứu khác bác sĩ so sánh các phương pháp điều trị khác nhau bằng cách áp dụng phương pháp điều trị mới khả quan cho một nhóm bệnh nhân và phương pháp điều trị thông thường (phương pháp chuẩn) cho một nhóm bệnh nhân khác. Qua những nghiên cứu này bác sĩ tìm ra phương pháp điều trị ung thư mới hiệu quả hơn.
Các tác dụng phụ có thể gặp do điều trị:Các tác dụng phụ do điều trị ung thư phụ thuộc vào phương pháp điều trị và khác nhau ở từng bệnh nhân. Bác sĩ và y tá sẽ giải thích các tác dụng phụ có thể gặp do điều trị và đưa ra các cách giải quyết các vấn đề gặp phải trong và sau điều trị.
Phẫu thuật gây ra cơn đau ngắn và tăng nhạy cảm ở vùng phẫu thuật. Sự khó chịu hoặc đau sau phẫu thuật có thể kiểm soát bằng thuốc. Bệnh nhân cần thảo luận về phương pháp giảm đau với thầy thuốc. Trong vài ngày sau phẫu thuật, bệnh nhân có thể gặp khó khăn khi đi tiểu và nhu động ruột chưa trở lại.
Cắt buồng trứng cũng có nghĩa là nguồn nội tiết estrogen và progesterone của cơ thể sẽ mất và bệnh nhân sẽ mất kinh. Các biểu hiện của mãn kinh như cơn bốc nóng, khô âm đạo xảy ra sớm sau phẫu thuật. Một vài liệu pháp thay thế hormone có thể dùng để làm giảm các triệu chứng này. Việc quyết định dùng là sự lựa chọn của mỗi cá nhân. Những phụ nữ bị ung thư buồng trứng nên thảo luận với bác sĩ của họ về những nguy cơ và lợi ích của việc dùng nội tiết thay thế.
Hóa trị tác động đến cả tế bào ung thư và tế bào lành. Các tác dụng phụ phụ thuộc nhiều vào loại thuốc và liều lượng thuốc được sử dụng. Các tác dụng phụ thường gặp khi điều trị hóa chất là buồn nôn và nôn, ăn không ngon, ỉa chảy, mệt mỏi, tê và cảm giác kim châm ở bàn tay bàn chân, đau đầu, rụng tóc, sạm da và móng. Một số thuốc dùng trong ung thư buồng trứng có thể làm giảm khả năng nghe và gây tổn thương thận. Để bảo vệ thận trong khi dùng thuốc, bệnh nhân cần truyền nhiều dịch.
Xạ trị, giống như hóa trị cũng tác động đến cả tế bào lành và tế bào ung thư. Các tác dụng phụ do xạ trị phụ thuộc chủ yếu vào liều xạ và phần cơ thể bị chiếu xạ. Tác dụng phụ hay gặp khi chiếu xạ vào vùng bụng là mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, nôn, đái khó, ỉa chảy và biến đổi da vùng bụng. Xạ trị trong phúc mạc có thể gây đau bụng và tắc ruột.
Theo dõi định kỳ sau điều trị:
Theo dõi chăm sóc sau điều trị ung thư buồng trứng là rất quan trọng. Kiểm tra đều đặn bao gồm thăm khám lâm sàng và làm PAP test . Bác sĩ có thể yêu cầu làm thêm các xét nghiệm như chụp phổi, chụp cắt lớp, siêu âm ổ bụng, xét nghiệm máu và định lượng CA-125. Bệnh nhân có thể yêu cầu bác sĩ kiểm tra cho họ các bệnh ung thư khác. Phụ nữ bị ung thư buồng trứng thường có nguy cơ cao bị ung thư vú hoặc ung thư đại tràng. Hơn nữa, việc dùng một số thuốc chống ung thư có thể gây một ung thư thứ phát như ung thư máu. 
2. Khám định kỳ theo dõi ung thư buồng trứng
Theo dõi sau khi điều trị ung thư buồng trứng là rất quan trọng. Khám định kỳ thường bao gồm khám lâm sàng chung, khám vùng chậu và nghiệm pháp PAP. Bác sĩ còn tiến hành các xét nghiệm bổ sung như chụp X quang lồng ngực, chụp cắt lớp vi tính, phân tích nước tiểu, xét nghiệm công thức máu và CA-125.
Bên cạnh việc khám theo dõi để phát hiện bệnh tái phát, bệnh nhân có thể muốn hỏi bác sĩ về việc khám thăm dò để phát hiện ra các loại ung thư khác. Bệnh nhân ung thư buồng trứng có nguy cơ ung thư vú và đại tràng cao hơn. Bên cạnh đó, điều trị bằng một số loại thuốc nhất định có thể làm tăng nguy cơ mắc loại ung thư thứ hai, chẳng hạn như bệnh ung thư tế bào máu.

Triệu chứng ung thư buồng trứng

Ung thư buồng trứng là kết quả của sự phát triển của đột biến gen trong các tế bào, có thể do di truyền hoặc tự phát. Điều này có thể làm cho các tế bào trong buồng trứng phát triển với một tốc độ không bình thường và gây ra ung thư buồng trứng.

Nếu bệnh ung thư buồng trứng được phát hiện và điều trị càng sớm thì khả năng hồi phục của bệnh nhân càng cao. Nhưng khó có thể sớm phát hiện ra ung thư buồng trứng. Nhiều trường hợp, bệnh nhân không có triệu chứng hay chỉ có những triệu chứng nhẹ cho đến khi bệnh đã ở giai đoạn muộn. Các nhà khoa học đang nghiên cứu những cách thức để phát hiện ra ung thư buồng trứng trước khi triệu chứng lâm sàng xuất hiện. Họ đang nghiên cứu lợi ích của việc định lượng CA 125, một chất được gọi là chất chỉ điểm khối u, chất này sẽ xuất hiện với nồng độ cao hơn bình thường trong máu của những phụ nữ bị ung thư buồng trứng. Họ còn đang đánh giá hiệu quả của phương pháp siêu âm qua âm đạo, một xét nghiệm giúp phát hiện ung thư buồng trứng ở giai đoạn sớm.
Tế bào ung thư buồng trứng phát triển rất nhanh chóng và dễ di căn rộng. Nhưng ung thư buồng trứng ở giai đoạn đầu thường khó phát hiện, thường thì được ngẫu nhiên phát hiện ra khi phụ nữ đi khám phụ khoa, hoặc khi khối u ung thư phát triển đến một kích thước nhất định nhô ra vùng khung chậu, ổ bụng mà có thể sờ thấy được, hoặc xuất hiện triệu chứng rồi mới có thể phát hiện, đến khi tìm đến bác sỹ thì đã ở giai đoạn muộn. Triệu chứng của ung thư buồng trứng khác nhau tuỳ thuộc vào kích thước khối u, thời gian phát bệnh, và các biến chứng. Vậy những triệu chứng của ung thư buồng trứng như thế nào?
Những triệu chứng thường thấy của ung thư buồng trứng:
- Giai đoạn đầu có hiện tượng vùng bụng dưới khó chịu hoặc đau âm ỉ ở một bên.
- Cảm giác vùng bụng trướng to hơn, do khối u phát triển rất nhanh trong thời gian ngắn sẽ gây ra hiện tượng trướng bụng, có khối u vùng bụng và báng bụng. Khối u nhỏ chỉ khi kiểm tra vùng khung chậu mới có thể phát hiện, khi khối u dần phát triển vượt qua vùng khung chậu thì vùng bụng có thể chạm vào khối u.
- Hiện tượng chèn ép, khi khối u xâm lấn vào những cơ quan bình thường xung quanh hoặc chèn ép dây thần kinh sẽ gây ra đau bụng, lưng hoặc đau thần kinh tọa, nếu khối u chèn ép vào tĩnh mạch xương chậu có thể xuất hiện hiện tượng phù chân; Khối u to sẽ chèn ép đến bàng quang, gây tiểu nhiều, tiểu dắt, tiểu buốt; chèn ép trực tràng gây ra đại tiện khó; chèn ép dạ dày có thể gây hiện tượng về đường tiêu hóa; chèn ép cơ hoành sẽ gây ra thở khó, không thể nằm thẳng.
- Do khối u phát triển nhanh, nên sẽ dẫn đến hấp thụ dinh dưỡng kém, giảm cân nhanh, suy nhược cơ thể.
- Do ung thư di căn nên xuất hiện những hiện tượng tương ứng, ung thư buồng trứng hiếm khi gây đau, ví dụ trong trường hợp khối u vỡ, chảy máu, nhiễm trùng hoặc do sự xâm lấn, chèn ép cơ quan lân cận thì mới gây ra đau bụng, đau lưng.
- Nếu cả hai bên buồng trứng đều bị ung thư sẽ gây ra mất hoặc rối loạn kinh nguyệt; di căn phổi sẽ gây ra ho nhiều, ho ra đờm lẫn máu, tràn dịch phổi; di căn xương gây ra vùng bệnh bị di căn đau đớn. Di căn đường ruột có thể khiến đi ngoài ra máu, nghiêm trọng hơn có thể gây ra tắc ruột.
- Nếu là khối u chức năng thì sẽ gây ra những hiện tượng tương ứng như khi sản xuất quá nhiều estrogen hoặc androgen. Ví dụ như: gây ra mất đi khả năng khống chế chảy máu tử cung, chảy máu âm đạo sau mãn kinh hoặc có dấu hiệu nam tính hoá. Bệnh nhân ung thư buồng trứng giai đoạn cuối thường có hiện tượng giảm cân đáng kể, thiếu máu nặng, suy nhược. Khi khám phụ khoa có thể phát hiện sau âm đạo có nốt cứng rải rác, thường có tính song phương, thực chất, bề mặt lồi lõm không bằng phẳng, cố định không di chuyển, thông thường có hiện tượng báng bụng huyết tính. Đôi khi sờ thấy hạch bạch huyết lan rộng trong nách, háng, xương đòn.
Có thể tóm lược lại một số dấu hiệu và triệu chứng ung thư buồng trứng như sau:
  • Khó chịu và/hoặc đau khắp bụng (trướng hơi, không tiêu, bị đè, trướng lên, phù nề, co thắt).
  • Buồn nôn, ỉa lỏng, táo bón hoặc đái rắt.
  • Mất cảm giác ngon miệng
  • Cảm thấy đầy bụng thậm chí chỉ sau bữa ăn nhẹ
  • Tăng hoặc giảm cân không rõ nguyên nhân
  • Ra máu âm đạo bất thường.
Những triệu chứng này có thể do ung thư buồng trứng hoặc do những bệnh khác ít nghiêm trọng hơn gây ra. Điều quan trọng là phải đến bác sĩ kiểm tra khi có những triệu chứng này.

Chẩn đoán ung thư buồng trứng

Ung thư buồng trứng phát triển thầm lặng, khi người phụ nữ cảm nhận thấy rõ thì thường đã muộn. Khi phát hiện một số dấu hiệu và triệu chứng bất thường như đau bụng, chướng hơi, buồn nôn, tiêu chảy, táo bón hoặc tiểu lắt nhắt; tăng hoặc giảm cân không rõ nguyên nhân, rối loạn kinh nguyệt hoặc ra máu âm đạo bất thường… người bệnh nên đến các cơ sở y tế chuyên khoa để được các bác sĩ kiểm tra và điều trị kịp thời. 
Bác sĩ sẽ tiến hành khám lâm sàng và chỉ định các xét nghiệm chẩn đoán. Một số thăm dò và xét nghiệm chẩn đoán hữu ích được trình bày dưới đây:
- Khám vùng chậu bao gồm khám tử cung, âm đạo, buồng trứng, ống dẫn trứng, bàng quang và trực tràng để phát hiện ra bất thường về hình dạng và kích thước của những bộ phận này.
- Siêu âm là phương pháp sử dụng sóng âm có tần số cao. Tai người không thể nghe được những sóng âm này. Sóng âm được hướng vào buồng trứng và dội lại tạo hình ảnh siêu âm. Mô lành, u nang và khối u biểu hiện khác nhau trên ảnh siêu âm.
- Xét nghiệm CA-125 là một xét nghiệm máu để đo nồng độ CA-125, một chất chỉ điểm khối u xuất hiện với một lượng cao hơn bình thường trong máu của những phụ nữ bị ung thư buồng trứng.
- Thụt baryt là phương pháp chụp X quang đại tràng và trực tràng. Phim được chụp sau khi bệnh nhân được thụt một dung dịch như phấn trắng có chứa bari. Bari hiển thị hình ảnh đại tràng và trực tràng trên tia X quang, làm cho khối u và những khu vực bất thường khác dễ quan sát hơn.
- Chụp cắt lớp vi tính là phương pháp sử dụng một máy X quang nối với máy vi tính để chụp chi tiết những bộ phận bên trong cơ thể.
- Sinh thiết là phương pháp lấy mô để quan sát dưới kính hiển vi. Bác sĩ giải phẫu bệnh nghiên cứu mô và đưa ra chẩn đoán. Để lấy được mô tiến hành xét nghiệm, bác sĩ tiến hành phẫu thuật mở bụng. Nếu nghi bị ung thư, bác sĩ phẫu thuật tiến hành cắt bỏ buồng trứng. Điều này rất quan trọng, bởi vì nếu có ung thư, việc lấy một mẫu mô bằng cách cắt xuyên qua lớp ngoài buồng trứng sẽ cho phép tế bào ung thư thoát ra và làm bệnh có thể lan đi.
Nếu ung thư buồng trứng được chẩn đoán, bác sĩ có thể muốn biết ung thư đang ở giai đoạn nào. Phân giai đoạn là một cố gắng để phát hiện ra ung thư đã lan chưa và nếu đã lan thì lan đến bộ phận nào của cơ thể. Phân giai đoạn có thể liên quan đến phẫu thuật, X-quang và các thăm dò hình ảnh khác và các xét nghiệm cận lâm sàng. Biết được giai đoạn của bệnh giúp bác sĩ lập phác đồ điều trị.