Thứ Hai, 22 tháng 12, 2014

Các yếu tố nguy cơ của ung thư phổi

Ung thư phổi bắt nguồn từ các mô của phổi, thường là từ các tế bào trong những đường dẫn khí. Có hai loại ung thư phổi là ung thư phổi tế bào nhỏ (SCLC) và ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NCSLC). Các loại này được chẩn đoán dựa trên việc các tế bào trông như thế nào dưới kính hiển vi. Hơn 80% các ca ung thư phổi thuộc loại không phải tế bào nhỏ. Trong đó có 3 loại chính của ung thư phổi không phải tế bào nhỏ là ung thư biểu mô tuyến, ung thư biểu mô tế bào vảy và ung thư biểu mô tế bào lớn.
 
Thông thường, bác sĩ khó có thể giải thích được nguyên nhân tại sao một người có thể mắc bệnh ung thư phổi còn người khác thì không. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng một người có một số yếu tố nguy cơ nhất định có thể dễ phát triển thành ung thư phổi so với người khác.
Thuốc lá: Hút thuốc lá là nguyên nhân gây ung thư phổi hàng đầu. Các chất độc hại, được gọi là những tác nhân gây ung thư, có trong thuốc lá làm tổn hại tới các tế bào ở trong phổi. Dần dần, những tế bào này có thể trở thành ung thư. Xác suất một người hút thuốc bị ung thư phổi phụ thuộc vào độ tuổi bắt đầu hút thuốc, thời gian hút thuốc, lượng thuốc lá hút trong một ngày và mức độ hít khói thuốc. Ngừng hút thuốc lá có thể làm giảm đáng kể nguy cơ ung thư phổi.
Khói thuốc lá đến nay là yếu tố nguy cơ chính và quan trọng nhất đối với bệnh ung thư phổi. Nó gây ra hơn 80% của tất cả các ca ung thư phổi trên toàn thế giới. Các chất độc hại trong khói thuốc làm hư hại các tế bào phổi. Theo thời gian, các tế bào bị hư hỏng có thể trở thành ung thư. Đây là lý do tại sao hút thuốc lá, tẩu thuốc, hoặc xì gà có thể gây ung thư phổi. Hít phải khói thuốc lá cũng có thể gây ung thư phổi ở những người không hút thuốc. Một người tiếp xúc càng nhiều với khói thuốc lá, nguy cơ bị ung thư phổi càng cao.
Xì gà và thuốc lá tẩu: Những người hút xì gà và hút thuốc lá tẩu có nguy cơ mắc ung thư cao hơn những người không hút thuốc. Số năm hút thuốc, số lượng xì gà và thuốc lá tẩu hút mối ngày, mức độ hít khói thuốc đều ảnh hưởng đến nguy cơ bị ung thư phổi. Thậm chí những người hút xì gà và thuốc lá tẩu không hít khói thuốc cũng có nguy cơ mắc ung thư phổi, ung thư miệng và các loại ung thư khác cao hơn.
Khói thuốc lá trong môi trường. Nguy cơ bị ung thư phổi tăng lên khi có tiếp xúc với khói thuốc trong môi trường. Tiếp xúc với khói thuốc trong môi trường, hay khói thuốc gián tiếp được gợi là hút thuốc không tự nguyện hay hút thuốc lá thụ động.
Radon: Radon là một chất khí phóng xạ không màu, không mùi vị và không nhìn thấy bằng mắt thường trong tự nhiên có trong sỏi và đá. Nó có thể làm tổn hại tới phổi và từ đó có thể dần đến ung thư phổi. Những người làm việc trong hầm mỏ có thể tiếp xúc với khí radon và ở một số vùng ở Mỹ người ta còn tìm thấy khí radon ở trong các ngôi nhà. Hút thuốc lá còn làm nguy cơ mắc bệnh ung thư phổi tăng lên cao hơn ờ những người đã có nguy cơ mắc căn bệnh này do tiếp xúc với khí radon. Một bộ dụng cụ có bán ở các cửa hàng kim khí cho phép những người chủ gia đình đo mức độ khí radon trong nhà họ. Kiểm tra mức độ khí radon trong nhà là một công việc tương đối dễ dàng và ít tốn kém. Một khi vấn đề về khí radon đã được xử lý thì sự đe dọa của nó sẽ biến mất mãi mãi.
Amiăng: Amiăng là tên gọi của một nhóm các chất khoáng, có trong tự nhiên dưới dạng sợi và được sử dụng trong một số ngành công nghiệp. Sợi amiăng có thể dễ dàng bị đứt đoạn thành các hạt nhỏ bay lơ lửng trong không khí và dính vào quần áo. Khi hít phải những hạt này chúng sẽ cư trú ở phổi, làm tổn hại tới tế bào và tăng nguy cơ ung thư phổi. Theo kết quả của các nghiên cứu những công nhân phải tiếp xúc với một lượng lớn chất amiăng có nguy cơ mắc ung thư phổi cao hơn gấp 3-4 lần so với những công nhân không phải tiếp xúc với chất này. Sự tiếp xúc này đã được thấy trong các ngành như đóng tàu, khai thác và sản xuất amiăng, sản xuất vật liệu cách điện và sửa chữa phanh. Nguy cơ mắc ung thư phổi ở những công nhân phải tiếp xúc với chất amiăng và hút thuốc còn cao hơn nữa. Những công nhân phải tiếp xúc với amiăng nên sử dụng những thiết bị bảo hộ lao động và tuân thủ những quy định về thực hành và an toàn lao động.
Ô nhiễm: Các nhà nghiên cứu đã tìm ra mối liên hệ giữa bệnh ung thư phổi và sự tiếp xúc với một số chất gây ô nhiễm không khí nhất định, ví dụ như các sản phẩm phụ sinh ra trong quá trình đốt dầu diesel và những nhiên liệu hóa thạch khác. Tuy nhiên, mối quan hệ này vẫn chưa được xác định một cách rõ ràng và vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu.

Các bệnh phổi: Một số bệnh phổi như bệnh lao làm tăng nguy cơ ung thư phổi. Ung thư phổi có xu hướng phát triển ở những vùng phổi bị sẹo do bệnh lao gây ra.

Tiền sử bản thân: Một người đã mắc ung thư phổi một lần có nguy cơ mẳc ung thư phổi lần hai cao hơn so với một người chưa bao giờ mắc bệnh ung thư phổi. Bỏ hút thuốc sau khi được chẩn đoán ung thư phổi có thể ngăn ngừa nguy cơ bị ung thư phổi lần hai.

Các nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục tìm hiểu những nguyên nhân gây bệnh ung thư phổi và tìm kiếm những cách thức để phòng chống căn bệnh này. Chúng ta đã biết rẳng cách tốt nhất đễ phòng chống ung thư phổi là bỏ hút thuốc lá (hoặc đừng bao giờ hút). Càng bỏ hút thuốc lá sớm thì càng tốt. Thậm chí nếu bạn đã hút thuốc lá trong nhiều năm thì việc bỏ hút thuốc cũng vẫn không bao giờ là quá muộn.

Phát hiện sớm & chẩn đoán ung thư phổi

Rất nhiều bệnh nhân ung thư phổi không hề có triệu chứng ở giai đoạn đầu, đến khi có các triệu chứng như: ho, đau ngực, khó thở, gầy sút cân... họ mới đi khám, khi đó hầu hết các trường hợp bệnh đều đã ở giai đoạn muộn: không thể mổ cắt bỏ u phổi được. Ung thư phổi thường được phát hiện muộn, hầu hết các trường hợp ung thư phổi được phát hiện ở Việt Nam đều ở giai đoạn muộn, không còn chỉ định phẫu thuật. Thời gian sống sau khi được phát hiện rất ngắn. Do vậy, việc phát hiện sớm ung thư phổi đóng vai trò rất quan trọng.
Để tìm ra nguyên nhân gây ra những triệu chứng ung thư phổi, bác sỹ phải xem xét tiền sử của người bệnh, tiền sử hút thuốc, tiếp xúc với các chất ở môi trường tự nhiên và môi trường lao động, tiền sử ung thư của gia đình. Bác sĩ khám bệnh và có thể cho chụp X-Quang lồng ngực và làm các xét nghiệm khác. Nếu nghi ngờ ung thư phổi thì sẽ chỉ định làm thêm xét nghiệm tế bào trong đờm (quan sát dưới kính hiển vi những tế bào lấy từ mẫu dịch nhầy ở phổi khi ho) là một xét nghiệm đơn giản mà có thể có ích cho việc phát hiện ra bệnh ung thư. Để chẩn đoán xác định ung thư phổi, bác sĩ phải nghiên cứu mô phổi. Sinh thiết – việc lấy một mẫu mô nhỏ ở phổi để chuyên gia mô bệnh học quan sát dưới kính hiển vi – có thể cho biết một người có bị ung thư hay không. Một số thủ thuật được thực hiện để có thể lấy được mẫu bệnh nhẩm này:
- Nội soi phế quản. Bác sỹ đưa một ống soi phế quản (một ống nhỏ có nguồn sáng) vào miệng hoặc mũi và luồn xuống khí quản để quan sát các đường hô hấp. Qua ống này bác sĩ có thể lấy các mẫu tế bào hoặc mẫu mô nhỏ.
- Chọc hút bằng kim. Một mũi kim được đâm xuyên qua thành ngực vào khối u để lấy mẫu mô.
- Chọc dịch màng phổi. Dùng kim lấy mẫu dịch bao quanh phổi để tìm tế bào ung thư.
- Mở lồng ngực. Đôi khi cần phải tiến hành phẫu thuật mở lồng ngực để chẩn đoán ung thư phổi. Đây là một đại phẫu thuật được thực hiện ở bệnh viện.
Phát hiện sớm ung thư phổi
Phát hiện sớm ung thư phổi
Nếu bạn có một triệu chứng và dấu hiệu cho thấy ung thư phổi, bác sĩ của bạn phải tìm hiểu xem liệu nó bắt nguồn từ ung thư hay các bệnh khác. Bạn có thể được yêu cầu làm một số xét nghiệm máu và các thủ tục chẩn đoán:
- Kiểm tra thể trạng sức khỏe.
- Chụp X-quang Vùng Ngực
- Chụp Cắt Lớp Điện Toán (CT)

Người bệnh cần làm thêm một số xét nghiệm sau để lấy bệnh phẩm:
- Xét nghiệm đờm để tìm các tế bào ung thư .
- Chọc dịch màng phổi: Bác sĩ dùng một ống kim dài để lấy dịch (từ màng phổi) từ lồng ngực. Phòng xét nghiệm kiểm tra dịch để tìm các tế bào ung thư. Phương pháp này chẩn đoán được trên 90% bệnh nhân
- Nội soi phế quản: Bác sĩ sẽ đưa một ống mỏng, nhẹ (ống soi phế quản) qua mũi hoặc miệng để đi vào phổi. Bác sĩ có thể lấy mẫu tế bào bằng ống kim, bàn chải, hoặc những dụng cụ khác. Bác sĩ cũng có thể rửa sạch vùng xét nghiệm bằng nước và thu thập tế bào trong nước rửa. Với bệnh nhân bị ở vùng rìa phổi thì phương án này không cho kết quả chính xác.
Chẩn đoán ung thư phổi
Để tìm ra nguyên nhân gây ra những triệu chứng ung thư phổi, bác sĩ phải xem xét tiền sử của người bệnh, tiền sử hút thuốc, tiếp xúc với các chất ở môi trường tự nhiên và môi trường lao động, tiền sử ung thư của gia đình.
Bác sĩ khám bệnh và có thể cho chụp X quang lồng ngực và làm các xét nghiệm khác. Nếu nghi ngờ ung thư phổi thì xét nghiệm tế bào trong đờm (quan sát dưới kính hiển vi những tế bào lấy từ mẫu dịch nhầy ở phổi khi ho) là một xét nghiệm đơn giản mà có thể có ích cho việc phát hiện ra bệnh ung thư. Để chẩn đoán ung thư phổi, bác sĩ phải nghiên cứu mô phổi. Sinh thiết tức là lấy một mẫu mô nhỏ ở phổi để chuyên gia mô bệnh học quan sát dưới kính hiển vi. Sinh thiết có thể cho biết một người có bị ung thư hay không.
Một số thủ thuật được thực hiện để có thể lấy được mẫu bệnh phẩm này:
- Nội soi phế quản. Bác sĩ đưa một ống soi phế quản (một ống nhỏ có nguồn sáng) vào miệng hoặc mũi và luồn xuống khí quản để quan sát các đường hô hấp. Qua ống này bác sĩ có thể lấy các mẫu tế bào hoặc mẫu mô nhỏ.
- Chọc hút băng kim. Một mũi kim được đâm xuyên qua thành ngực vào khối u để lấy mẫu mô.
- Chọc dịch màng phổi. Dùng kim lấy mầu dịch bao quanh phổi để tìm tế bào ung thư.
- Mở lồng ngực. Đôi khi cần phải tiến hành phẫu thuật mở lồng ngực để chẩn đoán ung thư phổi. Đây là một đại phẫu thuật được thực hiện ở bệnh viện.
Phân giai đoạn
Nếu đã chẩn đoán là ung thư phổi thì bác sĩ cần biết giai đoạn (hoặc là phạm vi) của bệnh. Tiến hành phân giai đoạn để biết được ung thư đã lan rộng chưa và nếu đã lan thì đến bộ phận nào của cơ thể. Ung thư phổi thường lan lên não hoặc vào xương. Biết được bệnh đang ở giai đoạn nào sẽ giúp cho bác sĩ lập kế hoạch điều trị.
Một số xét nghiệm được sử dụng để xác định mức độ lan của ung thư gồm:
- Chụp cắt lớp vi tính. Một máy vi tính được nối với một máy chụp X quang cho một loạt những bức tranh chi tiết về các bộ phận bên trong cơ thể.
- Chụp cộng hưởng từ hạt nhân. Một nam châm mạnh được nối với một máy vi tính cho những bức tranh chi tiết về các bộ phận bên trong cơ thể.

Phương pháp điều trị ung thư phổi

Điều trị bệnh ung thư phổiUng thư phổi là loại ung thư phổ biến và gây tử vong cao. Phương pháp điều trị căn bản cho ung thư phổi là hóa trị giúp kéo dài sự sống cho bệnh nhân. Với những bệnh nhân ung thư phổi, việc xét nghiệm gene sẽ giúp các bác sĩ đưa ra phương pháp điều trị thích hợp nhất cho bệnh nhân để kiểm soát tế bào ung thư.
1. Điều trị ung thư phổi
Phẫu thuật là mổ để cắt bỏ khối u. 
Phẫu thuật vẫn là phương pháp điều trị tốt nhất cho các bệnh nhân bị mắc ung thư. Hiện nay cắt thùy phổi là phẫu thuật giúp cắt bỏ hoàn toàn khối u, nếu khối u lớn hơn thì có thể cắt hai thùy hoặc cắt hết một lá phổi.
Phẫu thuật là phương pháp điều trị ung thư phổi mà bác sĩ tiến hành phụ thuộc vào vị trí của khối u trong phổi. Mổ để cắt bỏ chỉ một phần nhỏ của phổi được gọi là thủ thuật cắt bỏ phân thuỳ hoặc cắt hình chêm. Khi bác sĩ phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ một thuỳ phổi thì gọi là thủ thuật cắt bỏ thuỳ. Chữa trị ung thư phổi khi cắt bỏ phổi là lấy đi toàn bộ một lá phổi. Một số khối u không thể mổ được (không thể loại bở bằng phẫu thuật) do kích thước hoặc vị trí của khối u và một số bệnh nhân không thể tiến hành phẫu thuật vì những lí do về sức khỏe khác.
Khi không còn mổ được, xạ trị và hóa trị chỉ có giá trị nâng đỡ làm bớt đau, bớt ho. Hóa trị giúp kéo dài sự sống của người bệnh.
Hóa trị liệu
Là phương pháp điều trị ung thư phổi sử dụng thuốc chống ung thư để diệt các tế bào ung thư trên toàn cơ thể. Thậm chí sau khi ung thư được loại bỏ khỏi phổi thì các tế bào ung thư vẫn có thể xuất hiện ở những mô lân cận hoặc ở một vùng nào đó trong cơ thể. Có thể chữa trị bệnh ung thư phổi khi áp dụng hóa trị liệu để kiểm soát sự phát triển của tế bào ung thư hoặc là để giảm nhẹ triệu chứng. Hầu hết các loại thuốc chống ung thư được đưa vào cơ thể bằng đường tiêm tĩnh mạch trực tiếp hoặc qua một ống thông đưa vào một tĩnh mạch lớn và được lưu lại cho đến khi không cần nữa. Một số loại thuốc điều trị ung thư phổi ở dạng viên.
Điều trị bằng tia xạ
Là phương pháp điều trị ung thư phổi sử dụng tia có năng lượng lớn để tiêu diệt tế bào ung thư. Tia phóng xạ hướng vào một vùng giới hạn và chỉ tác dụng lên tế bào ung thư ở vùng đó. Có thể sử dụng tia phóng xạ trước khi phẫu thuật để làm co khối u lại hoặc là sau khi phẫu thuật để tiêu diệt tất cả những tế bào ung thư còn sót lại ở vùng phẫu thuật. Bác sĩ còn có thể chữa trị ung thư phổi khi sử dụng tia phóng xạ, thường là kết hợp với hóa trị liệu để điều trị ban đầu thay cho phẫu thuật. Tia phóng xạ còn có thể được áp dụng để làm giảm triệu chứng như khó thở. Trong điều trị ung thư phổi thường sử dụng xạ ngoài. Ngoài ra còn có thể đưa nguồn phóng xạ (hộp nhỏ chứa chất phóng xạ) trực tiếp vào khối u hoặc gần khối u (xạ áp sát).
Điều trị ung thư không phải tế bào nhỏ
Bệnh nhân bị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ có thể được điều trị theo một vài phương pháp. Lựa chọn phương pháp nào phụ thuộc chủ yếu vào kích thước, vị trí và phạm vi của khối u. Phẫu thuật là phương pháp phổ biến nhất để điều trị ung thư phổi loại này. Phẫu thuật lạnh, phương pháp điều trị gây đông và phá huỷ mô ung thư, có thể được sử dụng để kiểm soát triệu chứng ở những giai đoạn muộn của ung thư không phải tế bào nhỏ. Điều trị bẳng tia phóng xạ và hóa trị liệu có thể được sử dụng để làm chậm quá trình phát triển của bệnh và kiểm soát triệu chứng.
Điều trị ung thư tế bào nhỏ
Ung thư phổi tế bào nhỏ có thể lan rất nhanh. Trong nhiều trường hợp, tế bào ung thư có thể đã lan sang các bộ phận khác của cơ thể khi bệnh được chẩn đoán. Để tiếp cận tế bào ung thư trên toàn bộ cơ thể hầu như các bác sĩ luôn luôn sử dụng hóa trị liệu. Quá trình điều trị còn có thể bao gồm việc áp dụng tia phóng xạ chiếu vào khối u trong phổi hoặc những khối u ở những bộ phận khác trong cơ thể (chẳng hạn như ở trong não). Một số bệnh nhân được điều trị ung thư phổi bằng tia phóng xạ ở não ngay cả khi không tìm thấy ung thư ở vùng này. Phương pháp điều trị này, còn được gọi là liệu pháp chiếu xạ sọ não dự phòng, được áp dụng để ngăn ngừa sự hình thành khối u trong não. Phẫu thuật là một phần trong kế hoạch chữ trị ung thư phổi đối với một số ít bệnh nhân bị ung thư phổi tế bào nhỏ.
Kết quả điều trị: Tính chung, khoảng 25 trong số 100 người bệnh còn có thể phẫu thuật được khi khối u còn nhỏ. Phân nửa số này, nghĩa là khoảng 13% trên 100 người bệnh thì có khả năng khỏi bệnh 5 năm. Theo mộ số liệu thống kê của hội ung thư Hoa Kỳ năm 2013: Khi phát hiện lúc ung thư phổi còn chwadi căn, tỷ lệ sống sau 5 năm của ung thư phổi là 50%. Nhưng đáng tiếc là chỉ có 15% số ca ung thư phổi được chẩn đoán sớm. Khi ung thư đã di căn sang các bộ phận khác thì tỉ lệ sống của người bệnh chỉ có khoảng 3,5%.
2. Tác dụng phụ của điều trị ung thư phổi
Tác dụng phụ của việc điều trị ung thư phổi phụ thuộc vào phương pháp điều trị và có thể khác nhau đối với mỗi cá thể. Tác dụng phụ thường là tạm thời. Bác sĩ và y tá có thể giải thích những tác dụng phụ có thể xuất hiện trong quá trình điều trị và họ cũng có thể gợi ý những cách thức giúp làm giảm triệu chứng có thể phát sinh trong hoặc sau khi điều trị.
Phẫu thuật ung thư phổi là một đại phẫu thuật. Bệnh nhân thường cần phải có người giúp đỡ khi trở mình, ho và thở sâu. Những hoạt động này đóng vai trò quan trọng trong quá trình hồi phục bởi vì chúng giúp mở rộng mô phổi còn lại và loại bỏ khí và dịch thừa. Đau hoặc thấy khó chịu ở ngực và tay cũng như khó thở là những tác dụng phụ thường gặp trong phẫu thuật ung thư phổi . Sau khi điều trị ung thư phổi, bệnh nhân có thể cần vài tuần hoặc vài tháng để lấy lại năng lượng và sức mạnh của cơ thể.
Hóa trị liệu tác dụng lên cả tế bào thường và tế bào ung thư. Tác dụng phụ sẽ phụ thuộc chủ yếu vào loại thuốc và liều lượng cụ thể. Tác dụng phụ thường gặp của hóa trị liệu bao gồm buồn nôn và nôn, rụng tóc, đau miệng và mệt mỏi.
chữa trị ung thư phổi bằng phương pháp tia xạ , cũng giống như hóa trị liệu, ảnh hưởng tới cả tế bào thường và tế bào ung thư. Tác dụng phụ của tia phóng xạ chủ yếu phụ thuộc vào bộ phận được chiếu tia và liều chiếu. Tác dụng phụ thường gặp của tia phóng xạ là khô và đau họng, khó nuốt, mệt mỏi, thay đổi da ở vùng điều trị, mất cảm giác ăn ngon. Bệnh nhân được chiếu xạ vào não có thể bị đau đầu, thay đổi ngoài da, mệt mỏi, buồn nôn và nôn, rụng tóc hoặc là có vấn đề với trí nhớ và quá trình tư duy.
Sau khi điều trị ung thư phổi Liệu pháp quang động học làm cho da và mắt trở nên nhạy cảm với ánh sáng trong vòng sáu tuần hoặc là lâu hơn. Bệnh nhân nên tránh tiếp xúc với ánh nắng mặt trời trực tiếp và ánh đèn quá sáng ở trong nhà ít nhất trong vòng sáu tuần. Nếu bệnh nhân phải đi ra ngoài thì họ cần phải mặc quần áo bảo vệ và mang kính râm. Những tác dụng phụ tạm thời khác của phương pháp điều trị quang động học có thể bao gồm hiện tượng ho, khó nuốt, đau khi thở hoặc khó thở. Bệnh nhân nên thảo luận với bác sĩ về những việc cần phải làm khi da bị phồng rộp, tấy đỏ hoặc sưng lên
3. Ngăn ngừa ung thư phổi
Chưa có thuốc gì hay thức ăn nào có thể ngừa ung thư phổi. Không nên lạm dụng những chất vitamin tức sinh tố. Thí dụ, chất Beta-carotene là tiền sinh tố A ở lượng cao có thể gia tăng nguy cơ bị ung thư phổi.
Cách tốt nhất để giữ cơ thể khỏe mạnh là ăn uống điều độ và ăn đủ loại thực phẩm vì mỗi loại thức ăn có những yếu tố dinh dưỡng khác nhau cần thiết cho cơ thể. Ngưng hút thuốc lá có thể làm giảm nguy cơ ung thư phổi rất nhiều. Ngưng càng sớm càng tốt. Không hút thuốc lá là cách tốt nhất để ngừa ung thư phổi

Các dấu hiệu ung thư phổi

Ung thư phổi khi bệnh ở giai đoạn đầu thường không có biểu hiện gì rõ ràng, những biểu hiện đó thường khiến cho người bệnh dễ bị nhầm lẫn với các loại bệnh thông thường khác nên dễ chủ quan bỏ qua. Các triệu chứng ung thư phổi ban đầu thường thấy như: ho, đau ngực, khó thở, gầy sút cân, mệt mỏi,... Ho kéo dài, các thuốc chống viêm , trị ho không có tác dụng. Một nửa số người bệnh ho ra ít máu lẫn đờm. Bệnh nhân ung thư phổi cũng thường bị đau ngực, thường không có điểm đau rõ rệt, đau bên có tổn thương giống viêm dây thần kinh liên sườn. Có khi đau quanh bả vai, mặt trong cánh tay.

Hiện tượng khó thở chỉ gặp khi khối u chèn ép hoặc làm tắc khí phế quản, gây xẹp phổi, hoặc ung thư đã di căn màng phổi gây tràn dịch màng phổi. Ngoài ra, triệu chứng ung thư phổi căn bản còn bị khó nói hoặc nói giọng khan do khối u chèn ép vào dây thần kinh, khó nuốt do thực quản bị chèn ép, gầy sút, sốt nhẹ…
Việc chụp phổi bằng kỹ thuật X-quang thông thường, chụp cắt lớp vi tính hoặc chụp cộng hưởng từ có thể cho thấy khối u ở vị trí nào của phổi, kích thước bao nhiêu. Để chuẩn đoán đúng và phân loại ung thư, góp phần quyết định phương pháp điều trị ung thư phổi, cần xét nghiệm mô bệnh học và tế bào học.
Để phát hiện sớm ung thư phổi, nam giới từ 40 tuổi trở lên nếu nghiện thuốc lá kèm ho khan hoặc ho có đờm kéo dài nên đến bệnh viện 4 tháng/lần để chiếu chụp phổi, lấy đờm, dịch phế quản làm xét nghiệm tế bào học (5-8% số người đi khám được phát hiện ung thư phổi sớm). ở cả hai giới từ 40 tuổi trở lên, nếu có các dấu hiệu sút cân, ho kéo dài hoặc ho ra máu, đau ngực, khó thở, khó nói hoặc khó nuốt thì cần đi khám và làm các xét nghiệm.

Về điều trị ung thư phổi tùy theo từng bệnh nhân, bác sĩ chỉ định phương pháp điều trị phù hợp. Tuy nhiên cách phòng ngừa ung thư phổi là tạo môi trường sống sạch đẹp, bầu không khí trong lành, không hút thuốc lá, điều trị khỏi những bệnh của phế quản, phổi như viêm phế quản mạn, lao phổi. Ở độ tuổi 40 nên đi khám bệnh, chụp X-quang phổi định kỳ 6 tháng hoặc 1 năm.

Triệu chứng ung thư phổi ở nam giới

Nguyên nhân gây ra ung thư phổi ở nam giới chủ yếu là do đại bộ phận đàn ông đều hút thuốc, coi thuốc lá như một liều thuốc giảm căng thẳng, mệt mỏi. Cánh mày râu hãy cùng tìm hiểu triệu chứng ung thư phổi để có biện pháp phòng và chữa bệnh kịp thời. Hút thuốc lá - Nguyên nhân hàng đầu của bệnh ung thư phổi.
 
Ở nam giới dấu hiệu ung thư phổi bao gồm:
1. Ho: là dấu hiệu đầu tiên khi bạn có nguy cơ mắc phải bệnh ung thư phổi. Biểu hiện là ho khan nhẹ hay ho dữ dội, ho không có đờm hoặc không thể khạc ra đờm, những cơn ho nhiều dần về đêm.
2. Ho ra máu: Triệu chứng chính của bệnh là ho mãn tính - mặc dù hầu hết các trường hợp như vậy không phải do nguyên nhân ung thư. Cuộc vận động mới đây được đưa ra tại Anh có tên Be Clear on Cancer, nhằm vào những người trên 50 tuổi, là nhóm tuổi có nguy cơ cao nhất.
trong giai đoạn đầu khi bạn mắc phải bệnh ung thư phổi sẽ xuất hiện tình trạng ho ra máu. Khi bạn sử dụng thuốc là với một lượng lớn và thường xuyên bạn sẽ có triệu chứng ung thư phổi đó là ho ra đờm có lẫn máu hoặc ho nguyên ra máu. Trong giai đoạn này nếu bạn đu chụp X-quang sẽ thấy xuất hiện tình trạng viêm ở vùng phổi.
Đau ngực là một triệu chứng ung thư phổi
Đau ngực là một triệu trứng mắc phải của bệnh ung thư phổi
3. Đau ngực: 1/3 số bệnh nhân ung thư phổi sẽ xuất hiện triệu chứng đau ngực, đau âm ỉ và kéo dài. Đặc biệt đau sẽ nặng hơn khi hít thở hoặc ho, gây khó chịu lớn cho người bệnh.
4. Sốt nhẹ: cũng là một trong các triệu chứng ung thư phổi. Sốt ở bệnh nhân ung thư phổi đại đa số là do ung thư tính nhiệt gây ra tắc nghẽn thoát dịch ở phổi và phế quản dẫn đến tình trạng viêm, điều trị kháng sinh kém hiệu quả, hơn nữa dễ mắc lặp đi lặp lại, nhiệt độ cơ thể bình thường là ở 38oC trở xuống.
5. Ngoài ra,dấu hiệu ung thư phổi thường thấy như khàn giọng, mặt bị phù, cổ bị hạch to, gầy sút cân, có thay đổi trong hình dạng của ngón tay và móng tay, dễ bị chảy máu
Hiện nay, ung thư phổi là một loại u ác tính, nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới. Đặc biệt đối với người cao tuổi khi bị mặc bệnh này rất dễ ảnh hưởng sang xương khớp, gây ung thư xương,… Do vậy, cách tốt nhất là bạn nên hạn chế hút thuốc lá ngay từ bây giờ, khi còn có thể cứu vãn tránh đến khi đã xuất hiện một trong các triệu chứng ung thư phổi kể trên thì rất khó điều trị.
Tìm hiểu thêm về ung thư phổi.

Những điều cần biết về ung thư phổi

Ung thư phổi là căn bệnh gây khoảng 1,2 Triệu cái chết mỗi năm. Trong vòng 25 năm qua, số người chết vì ung thư phổi mới tăng dần, nguyên nhân do triệu chứng ung thư phổi giai đoạn đầu không khác gì so với các bệnh lý cơ bản, vì vậy rất khó phát hiện bệnh để điều trị sớm.
Tìm hiểu ung thư phổiSố ít người bệnh, không có dấu hiệu ung thư phổi giai đoạn đầu rõ dàng, tình cờ chụp phim ngực hoặc vì lý do nào khác, thấy khối ung thư. Còn đa số người bệnh có triệu chứng lúc ung thư được tìm ra. Triệu chứng ung thư phổi còn tùy vào ung thư còn trong phổi và ngực, hay đã lan sang các cơ quan lân cân hoặc đã theo máu di đi xa. Triệu chứng do sự hiện diện của khối ung thư trong phổi và ngực: triệu chứng nhiều nhất là ho, ho khan hoặc có đàm. Các triệu chứng khác nữa có thể xuất hiện khi khối bướu to lên, lan rộng trong ngực… Triệu chứng ung thư phổi di căn: đau xương, yếu nhược, da vàng, vàng mắt, xuống cân, nhức đầu, buồn nôn và ói mửa….
Khoảng 10-20% người bệnh ung thư phổi có thêm hội chứng gọi là Paraneoplastic syndrome, ung thư tiết ra một số chất, vào máu gây triệu chứng như đau sung khớp, ngón tay dày lên, rộng ra giống như cái chày, triệu chứng thần kinh bất thường , tính tình thay đổi(ung thư đến óc); vú to ra, chảy chất dịch giống sữa, chất calcium tăng cao trong máu…. Đây có thể xem là những triệu chứng gián tiếp ung thư phổi.
Khi ung thư phổi còn những giai đoạn đầu, chưa di căn có thể phẩu thuật để cắt hẳn khối ung thư. Nhưng khi ung thư đã sang giai đoạn ra ngoài thành ngực và di căn sang các vùng khác, giải phẩu thường không giúp được gì, chỉ chữa bằng phương pháp điều trị ung thư phổi: hóa trị và xạ trị.
Hút thuốc là yếu tố nguy hại hàng đầu gây ung thư phổi. Người hút thuốc lá có nguy cơ bị ung thư phổi 10-30 lần nhiều hơn người không hút. Tuy các yếu tố khác, chẳng hạn ngửi khói thuốc bay ra từ miếng người hút thuốc lá, tiếp xúc các chất asbestos, rado, arsenic, radiation, polycyclic, nickel… cũng có thể làm tăng nguy cơ ung thư phổi, nhưng cho đến nay, hút thuốc lá vẫn nguy hiểm nhất, nguyên nhân 90% trường hợp ung thư phổi.

Dấu hiệu ung thư phổi di căn

Nhiều dấu hiệu của ung thư phổi lúc đầu rất mập mờ và hay bị nhầm lẫn với những bệnh thông thường khác, do vậy khi được phát hiện thì bệnh đã bị nặng hơn. Khi ung thư phổi phát triển nặng hơn thường có các triệu chứng sưng phổi, nặng ngực, thở thấy nặng nặng, hay cảm cúm mệt mỏi. Ho húng hắng và dai dẳng, không thấy gì khác hơn cơn ho cảm bình thường, nhất là ở người có tuổi và hay hút thuốc lá thì dễ nghĩ là "tại mấy hôm trời lạnh mà lại yếu phổi".
Ung thư phổi càng về lâu càng diễn tiến xấu hơn, đau vai đau lưng thường xuyên, thở sâu thấy nặng hơn, ho ra máu, hơi thở ngắn đi, khàn tiếng, viêm thanh quản lặp đi lặp lại, đờm dính máu, phù mặt cổ, thở khó. Sụt cân vô cớ, không thèm ăn, hay mệt mỏi có thể là những triệu chứng báo động của bệnh ung thư phổi. Vì hầu hết ung thư phổi được phát hiện ở giai đoạn rất muộn nên việc điều trị cho kết quả không khả quan.
Dấu hiệu nhận biết ung thư phổiDấu hiệu ung thư phổi di căn thường ho không hết, đặc biệt ho ra máu, gây đau ngực, khó thở…
Ung thư phổi có thể di căn và thường di căn theo chính đường hô hấp trong cơ thể. Các tế bào ung thư có thể đi qua đường máu và di căn qua đường bạch huyết đến các hạch bạch huyết… hay gặp nhất là não, xương, gan, hạch ngoại vị , tuyến thượng thận, phổi bên đối diện.
Triệu chứng ung thư phổi giai đoạn cuối:
Với một bệnh nhân ung thư phổi khi đã di căn đến phủ tạng khác thì chuyển sang gian đoạn 4- "muộn".
- Chất lỏng có chứa tế bào ung thư đã hình thành không gian quanh phổi, dẫn đến khó thở.
- Tắc nghẽn hoặc chảy máu từ đường hô hấp lớn: Ung thư phổi phát triển gần đường hô hấp, lây lan của khối u vào đường thở có thể gây ra tắc nghẽn và chảy máu.
- Đau xương: Ung thư phổi thường lây lan đến xương ngực và xương sống. Thuốc giảm đau có thể được sử dụng kiểm soát cơn đau, nhưng đôi khi xạ trị cũng được sử dụng để giảm đau hoặc giúp ngăn ngừa gãy xương.
- Di căn lên não: triệu chứng gây nhức đầu, động kinh.
Điều trị ung thư phổi giai đoạn cuối:
Trong giai đoạn này, bệnh nhân ung thư phổi được điều trị giảm nhẹ để nhằm mục đích kiểm soát và kéo dài cuộc sống của bệnh nhân, nâng cao chất lượng cuộc sống. Chẳng hạn như bệnh nhân ung thư phổi di căn thường có những đau đớn do những tổn thương di căn gây ra thì người ta phải kiểm soát đau để làm cho bệnh nhân giảm đau hoặc chúng ta phải điều trị cho bệnh nhân để đề phòng những biến chứng có thể xảy đến với bệnh nhân ví dụ như di căn xương sẽ có thể dẫn đến gãy xương.
Vì vậy, người ta vẫn áp dụng những phương pháp điều trị ung thư phổi hiện đại, đặc biệt là hóa chất để điều trị cho bệnh nhân nhưng không phải là chữa khỏi mà là kéo dài, để kiểm soát bệnh và để nâng cao chất lượng cuộc sống và giảm nhẹ các đau đớn ở giai đoạn cuối.