điều trị ung thư phổi

Hiển thị các bài đăng có nhãn điều trị ung thư phổi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn điều trị ung thư phổi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 5 tháng 2, 2015

Điều trị ung thư phổi bằng phẫu thuật

Phẫu thuật là cách điều trị ưu tiên cho những người có giai đoạn 1, 2 và một số giai đoạn 3 bệnh ung thư phổi.
Có một số loại khác nhau:
Cắt thuỳ: hoạt động này sẽ loại bỏ một phần của phổi.
Wedge cắt bỏ hoặc segmentectomy: điều này là khi chỉ là một mảnh nhỏ của phổi được lấy ra.
Pneumonectomy: đây là khi toàn bộ phổi được lấy ra.


Bác sĩ sẽ xem xét khỏe nói chung của bạn và cho dù bạn có bất kỳ điều kiện y tế khác khi quyết định nếu bạn có phù hợp để phẫu thuật. Hầu hết các hoạt động của doanh nghiệp được thực hiện bằng cách sử dụng phẫu thuật nội soi. Điều này có nghĩa là các bác sĩ phẫu thuật có thể hoạt động mà không cần phải làm cho một phần lớn hoặc vết rạch. Đôi khi một phần lớn sẽ là cần thiết và nó sẽ mất nhiều thời gian để bạn có thể phục hồi.
Phẫu thuật là cách điều trị ung thư phổi có nhiều khả năng để chữa bệnh ung thư phổi, nhưng có thể có rủi ro liên quan. Bác sĩ chuyên khoa sẽ có thể nói chuyện với bạn về những rủi ro chi tiết hơn.
Điều quan trọng là phải hiểu rằng ngay cả khi hoạt động của bạn có vẻ như đã thành công, vẫn còn là một nguy cơ rằng ung thư có thể trở lại.
Một khi bạn đã phục hồi sau phẫu thuật của bạn, bạn có thể sẽ được cung cấp điều trị bằng hóa trị liệu để giảm nguy cơ ung thư tái phát trở lại.
Tìm hiểu thêm về nguyên nhân ung thư phổi: http://benhvienungbuouhungviet.com/nguyen-nhan-benh-ung-thu-phoi.

Thứ Hai, 22 tháng 12, 2014

Triệu chứng ung thư phổi

Nhiều triệu chứng của ung thư phổi mới đầu rất mập mờ, do đó dễ bị bỏ qua hoặc nhầm lẫn với các bệnh khác, gây khó khăn trong việc phát hiện sớm. Ung thư phổi sớm có thể không có triệu chứng đặc hiệu. Triệu chứng của bệnh ung thư phổi tiền phát là những cơn ho khan thường xuyên. Sau đó, từ ho khan, bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn đầu có thể ho ra đờm, đặc biệt ho nhiều vào lúc gần sáng, đôi khi dính thêm tí máu.  Khi bệnh đã phát triển đến một mức nào đó, người bệnh thường xuyên bị viêm phế quản, viêm phổi dẫn đến suy nhược cơ thể. Khi bệnh phát triển nặng hơn, có thể có các triệu chứng sưng phổi, nặng ngực, thở thấy nặng nhọc, thường xuyên thấy mệt mỏi,...
Ung thư phổi giai đoạn đầu thường không gây ra triệu chứng. Nhưng khi ung thư phổi phát triển, các triệu chứng thông thường có thể bao gồm:
Triệu chứng ung thư phổiTriệu chứng của bệnh ung thư phổi tiền phát là những cơn ho khan thường xuyên. Sau đó, từ ho khan, bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn đầu có thể ho ra đờm, đặc biệt ho nhiều vào lúc gần sáng, đôi khi dính thêm tí máu.  Khi bệnh đã phát triển đến một mức nào đó, người bệnh thường xuyên bị viêm phế quản, viêm phổi dẫn đến suy nhược cơ thể.
Nói chung, khi bị ung thư phổi, người bệnh có thể thấy các triệu chứng chung là có nhiều thay đổi có thể xảy ra trong phổi và vùng ngực. chẳng hạn như :
- Ho dài dẳng và liên tục.
- Đau ở lung, ngực và vai. Tuy nhiên, triệu chứng ung thư phổi ở mỗi người lại có cảm nhận cơn đau khác nhau, nhất là trong những lúc ho.
- Thay đổi về lượng và màu sắc của đờm.
- Khó thở.
- Giọng nói thay đổi, trở nên khafnkhafn.
- Nói khó khăn qua từng hơi thở.
- Ho ra máu.
- Mất cảm giác ngon miệng, giảm cân và liên tục mệt mõi.
- Đau xương và khớp, sung ở cổ và mặt.
- Dễ bị chảy máu
Ngoài ra còn có các dấu hiệu ung thư phổi ít gặp hơn như:
- Giọng nói khan.
- Nuốt khó.
- Có thay đổi trong hình dạng của ngon tay và móng tay
- Tắc nghẽn mạch máu ở vùng mặt
- Khó thở
Có một số loại tế bào ung thư phổi khi vào máu có thể dẫn đến triệu chứng ung thư phổi liên quan đến nội tiết tốt, bao gồm:
- Yếu trong cơ bắp.
- Tê các ngón tay
- Buồn ngủ, chóng mặt và sự nhầm lẫn
- Sưng ngực ở nam giới
Những triệu chứng này có thể do ung thư phổi gây ra hoặc cũng có thể do các bệnh lý khác gây ra. Điều quan trọng là phải đến bác sĩ khám bệnh. Cần chú ý rằng có khoảng 13% bệnh nhân không biểu hiện bất cứ một dấu hiệu ung thư phổi nào như trên khi khối u của họ được phát hiện.
Tìm hiểu các phương pháp chuẩn đoán để sớm phát hiện ung thư từ đó có phương pháp điều trị ung thư phổi phù hợp và hiệu quả nhất đối với bệnh nhân.

Cảnh giác với bệnh ung thư phổi

Mỗi năm cả nước có hơn 20.000 bệnh nhân ung thư phổi được phát hiện, 17.000 ca tử vong. Theo phó giáo sư Nguyễn Viết Nhung, Giám đốc Bệnh viện Phổi Trung ương (Hà Nội), ung thư phổi là một trong những căn bệnh gây tử vong hàng đầu. Tình hình bệnh ở Việt Nam vẫn còn khá nặng nề, số bệnh nhân đang ngày càng tăng lên.

Giống như nhiều loại ung thư khác, ung thư phổi có thể được điều trị dứt điểm nếu được phát hiện sớm. Chẳng hạn, với người bị ung thư phổi ở giai đoạn 1, tỷ lệ sống sót lên tới 70%. Tuy nhiên, phần lớn bệnh nhân tại Việt Nam lại phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn, không còn khả năng điều trị triệt để; rất ít người còn có khả năng cắt khối u.
Các dấu hiệu ung thư phổi ở giai đoạn sớm thường không đặc hiệu. Ho là biểu hiện thường gặp nhất nhưng nó cũng là dấu hiệu của nhiều bệnh lý khác. Ngoài ra, một số người có thể thấy đau ngực, khó thở, ho ra máu, sụt cân, khàn tiếng...
Nếu được phẫu thuật ở giai đoạn sớm, tỷ lệ sống sau 5 năm ở bệnh nhân ung thư phổi có thể đạt 40-50%. Đối với bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn muộn (không còn khả năng phẫu thuật), tỷ lệ tử vong trong vòng 6 tháng tới một năm là 90%. Trong những trường hợp này, phương pháp xạ trị và hóa trị có thể giúp cải thiện tiên lượng và giảm bớt các triệu chứng ung thư phổi.
Bác sĩ Tạ Chi Phương, Trưởng khoa Ung bướu Bệnh viện phổi Trung ương cho biết, điều trị ung thư phổi có thể được điều trị bằng phẫu thuật, hóa trị liệu, xạ trị liệu, miễn dịch trị liệu hay các phương pháp khác. Việc chọn lựa phương pháp điều trị phụ thuộc vào kích thước, vị trí, mô bệnh học của khối u, giai đoạn của bệnh, cũng như tổng trạng của bệnh nhân. Trong đó, phương pháp xạ trị là một phương pháp quan trọng và hiệu quả.
"Sự ra đời của phương pháp xạ trị đã làm tăng cơ hội cứu sống bệnh nhân một cách rõ rệt, kéo dài tuổi thọ của người bệnh đồng thời làm giảm thiểu các tác dụng phụ. Đặc biệt, với các bệnh nhân không thể chỉ định hoặc không muốn mổ thì xạ trị là phương pháp tối ưu nhất”, bác sĩ Phương nói.
Bệnh viện phổi Trung ương vừa đưa vào hoạt động Trung tâm xạ trị ung thư phổi công nghệ cao nhằm giúp bệnh nhân điều trị bằng phương pháp hiện đại, ít đau đớn nhất.
Nguồn: http://benhvienungbuouhungviet.vn/tim-hieu-benh-ung-thu/ung-thu-phoi/canh-giac-voi-benh-ung-thu-phoi.aspx

Cảnh báo ung thư phổi

Ung thư phổi là loại ung thư phổ biến nhất và đang có xu hướng tăng lên trên toàn cầu. Ung thư phổi được hình thành từ sự phát triển không thể kiểm soát được của các tế bào bất thường xuất phát từ nhu mô phổi.
Ban đầu từ một số lượng nhỏ tế bào chứa hình thành khối u , sau đó chúng phát triển thành những khối u có kích thước lớn dần và cuối cùng các tế bào ung thư này có thể di căn đi khắp cơ thể và hình thành những khối u ở các cơ quan mới và gây tử vong cho người bệnh.
Tại Việt Nam trung bình cứ 100000 nam giới có khoảng 29 người mắc bệnh ung thư phổi và đây là bệnh hiếm gặp ở trẻ em và người trẻ tuổi, tuổi mắc bệnh trung bình khoảng 50 tuổi, tuy nhiên có một số ít trường hợp bệnh nhân được phát hiện ở tuổi 30.
Cản báo ung thư phổiUng thư phổibệnh ung thư có tỉ lệ mắc và tỉ lệ tử cong đứng đầu ở nam giới, các nhà khoa học đã nghiên cứu rất nhiều về nguyên nhân ung thư phổi trong nhiều năm qua và trong số các yếu tốt nguy cơ tìm thấy thì cho đến nay thuốc lá vẫn là yếu tố nguy cơ hàng đầu gây ra ung thư phổi. Theo khoa học người nghiện thuốc lá có nguy cơ mắc ung thư phổi cao gấp 20-40 lần so với người không hút thuốc lá.
Số lượng thuốc lá hút trong 1 ngày, số năm hút thuốc lá liên quan tỉ lệ thuật với nguy cơ mắc ung thư phổi ở cả những người hút thuốc thụ động . ngoài thuốc lá ra, mốt số các yếu tố nguy cơ khác được kể đến đó là khí radon, arsenic, asbestons…. Tuy nhiên thuốc lá vẫn là nguyên nhân hàng đầu và thực tế đây là nguyên nhân có thể phòng tránh bằng cách không hút thuốc lá hoặc ngừng hút thuốc lá ở những người đang hút thuốc lá.
Phòng để không mắc bệnh ung thư phổi là cách tốt nhất để không bị tử vung vì ung thư phổi là bệnh có tiên lượng xấu, sang lọc và phát hiện sớm ung thư bằng khám lâm sang, chụp X quang phổi, xét nghiệm tế bào đờm cho các đối tượng có nguy cơ cao có thể phát hiện được bệnh ở giai đoạn sớm hơn, thời gian sống thêm lâu hơn so với bệnh nhân được phát hiện ở giai đoạn muộn.
Tuy nhiên ngay cả khi được phát hiện sớm ung thư phổi cũng khó có thể được chữa khỏi hoàn toàn vì vậy cho đến nay, chưa có biện pháp sang lọc phát hiện sớm nào thực sự đem lại hiệu quả hạ thấp tỉ lệ tử vong do căn bệnh này, nên một lần nữa cần khẳng định hút thuốc lá, ngừng hút thuốc lá là phương pháp phòng bệnh ung thư tốt nhất.
Các  triệu chứng ung thư phổi ở giai đoạn sớm thường rất nghèo nàn, đôi khi bệnh được phát hiện được do tình cờ đi khám sức khỏe định kỳ hoặc khám một bệnh khác. Giai đoạn muộn bênh có dấu hiệu ung thư phổi lâm sang phong phú để chuẩn đoán hơn với các biểu hiện như ho kéo dài, ho khan hoăc ho có máu, đau ngực khó thở, khan tiếng và gây sút cân thậm chí cóc các biển hiện bệnh đã di căn xa như đau xương do di căn xương, đau đầu, nột liệt người do di căn não…
Khi có các triệu chứng ung thư phổi trên bệnh nhân thường đến viện khám, sau khi khỏi bệnh các bác sĩ cho xét nghiệm cần thiết để chuẩn đoán xem bệnh nhân có mắc ung thư phổi hay không, nếu mắc thì bệnh giai đoạn nào, các xét nghiệm thường làm bao gồm :  chụp X quang phổi thẳng nghiêng, soi phế quản, sinh thiết u qua nội soi, chụp cắt lớp lồng ngực…. đánh giá mức độ lan tràn của bệnh.
Ung thư phổi được chia thành 4 giai đoạn dựa vào đặc điểm khổi u, đặc điểm di căn hạch và có hay không có di căn xa. Giai đoạn bệnh là yếu tố quan trọng quyết định các phương pháp điều trị ung thư phổi có thể được áp dụng cho mỗi bệnh nhân ở giai đoạn sớm.
Bệnh nhân thường được phẩu thuật cắt bỏ khối u kèm theo vét hạch sau đó được điều trị hóa chất, tia xạ bổ xung tùy theo từng trường hợp, ở giai đoạn muộn hơn không còn khả năng phẩu thuật bệnh nhân thường được điều trị ung thư phổi bằng tia xạ phối hợp với hóa chất và một số phương pháp khác nhằm giảm nhẹ triệu chứng cho người bệnh.
Ung thư phổi có loại khác nhau về đặc điểm bệnh, phương pháp điều trị và cả tiên lượng. loại ung thư phổi tế bào nhỏ có thời gian sống thêm trung bình từ 9-11 tháng, tỉ lệ sống thêm 2 năm cho giai đoạn khu trú 40% , giai đoạn lan tràn là 5%
Thông thường các bệnh nhân ở giai đoạn sớm sau khi phẩu thuật , nếu được điều trị bổ xung tia xạ hoặc hóa chất thì thời gian điều trị khoảng 5-6 tháng, sau đó bệnh nhân ra vienj và sẽ được hẹn khám lại định kỳ 3 tháng/lần trong 2 năm đầu, 6 tháng cho 3 năm tiếp theo và hàng năm cho những năm sau đó.

Phát hiện sớm & chẩn đoán ung thư phổi

Rất nhiều bệnh nhân ung thư phổi không hề có triệu chứng ở giai đoạn đầu, đến khi có các triệu chứng như: ho, đau ngực, khó thở, gầy sút cân... họ mới đi khám, khi đó hầu hết các trường hợp bệnh đều đã ở giai đoạn muộn: không thể mổ cắt bỏ u phổi được. Ung thư phổi thường được phát hiện muộn, hầu hết các trường hợp ung thư phổi được phát hiện ở Việt Nam đều ở giai đoạn muộn, không còn chỉ định phẫu thuật. Thời gian sống sau khi được phát hiện rất ngắn. Do vậy, việc phát hiện sớm ung thư phổi đóng vai trò rất quan trọng.
Để tìm ra nguyên nhân gây ra những triệu chứng ung thư phổi, bác sỹ phải xem xét tiền sử của người bệnh, tiền sử hút thuốc, tiếp xúc với các chất ở môi trường tự nhiên và môi trường lao động, tiền sử ung thư của gia đình. Bác sĩ khám bệnh và có thể cho chụp X-Quang lồng ngực và làm các xét nghiệm khác. Nếu nghi ngờ ung thư phổi thì sẽ chỉ định làm thêm xét nghiệm tế bào trong đờm (quan sát dưới kính hiển vi những tế bào lấy từ mẫu dịch nhầy ở phổi khi ho) là một xét nghiệm đơn giản mà có thể có ích cho việc phát hiện ra bệnh ung thư. Để chẩn đoán xác định ung thư phổi, bác sĩ phải nghiên cứu mô phổi. Sinh thiết – việc lấy một mẫu mô nhỏ ở phổi để chuyên gia mô bệnh học quan sát dưới kính hiển vi – có thể cho biết một người có bị ung thư hay không. Một số thủ thuật được thực hiện để có thể lấy được mẫu bệnh nhẩm này:
- Nội soi phế quản. Bác sỹ đưa một ống soi phế quản (một ống nhỏ có nguồn sáng) vào miệng hoặc mũi và luồn xuống khí quản để quan sát các đường hô hấp. Qua ống này bác sĩ có thể lấy các mẫu tế bào hoặc mẫu mô nhỏ.
- Chọc hút bằng kim. Một mũi kim được đâm xuyên qua thành ngực vào khối u để lấy mẫu mô.
- Chọc dịch màng phổi. Dùng kim lấy mẫu dịch bao quanh phổi để tìm tế bào ung thư.
- Mở lồng ngực. Đôi khi cần phải tiến hành phẫu thuật mở lồng ngực để chẩn đoán ung thư phổi. Đây là một đại phẫu thuật được thực hiện ở bệnh viện.
Phát hiện sớm ung thư phổi
Phát hiện sớm ung thư phổi
Nếu bạn có một triệu chứng và dấu hiệu cho thấy ung thư phổi, bác sĩ của bạn phải tìm hiểu xem liệu nó bắt nguồn từ ung thư hay các bệnh khác. Bạn có thể được yêu cầu làm một số xét nghiệm máu và các thủ tục chẩn đoán:
- Kiểm tra thể trạng sức khỏe.
- Chụp X-quang Vùng Ngực
- Chụp Cắt Lớp Điện Toán (CT)

Người bệnh cần làm thêm một số xét nghiệm sau để lấy bệnh phẩm:
- Xét nghiệm đờm để tìm các tế bào ung thư .
- Chọc dịch màng phổi: Bác sĩ dùng một ống kim dài để lấy dịch (từ màng phổi) từ lồng ngực. Phòng xét nghiệm kiểm tra dịch để tìm các tế bào ung thư. Phương pháp này chẩn đoán được trên 90% bệnh nhân
- Nội soi phế quản: Bác sĩ sẽ đưa một ống mỏng, nhẹ (ống soi phế quản) qua mũi hoặc miệng để đi vào phổi. Bác sĩ có thể lấy mẫu tế bào bằng ống kim, bàn chải, hoặc những dụng cụ khác. Bác sĩ cũng có thể rửa sạch vùng xét nghiệm bằng nước và thu thập tế bào trong nước rửa. Với bệnh nhân bị ở vùng rìa phổi thì phương án này không cho kết quả chính xác.
Chẩn đoán ung thư phổi
Để tìm ra nguyên nhân gây ra những triệu chứng ung thư phổi, bác sĩ phải xem xét tiền sử của người bệnh, tiền sử hút thuốc, tiếp xúc với các chất ở môi trường tự nhiên và môi trường lao động, tiền sử ung thư của gia đình.
Bác sĩ khám bệnh và có thể cho chụp X quang lồng ngực và làm các xét nghiệm khác. Nếu nghi ngờ ung thư phổi thì xét nghiệm tế bào trong đờm (quan sát dưới kính hiển vi những tế bào lấy từ mẫu dịch nhầy ở phổi khi ho) là một xét nghiệm đơn giản mà có thể có ích cho việc phát hiện ra bệnh ung thư. Để chẩn đoán ung thư phổi, bác sĩ phải nghiên cứu mô phổi. Sinh thiết tức là lấy một mẫu mô nhỏ ở phổi để chuyên gia mô bệnh học quan sát dưới kính hiển vi. Sinh thiết có thể cho biết một người có bị ung thư hay không.
Một số thủ thuật được thực hiện để có thể lấy được mẫu bệnh phẩm này:
- Nội soi phế quản. Bác sĩ đưa một ống soi phế quản (một ống nhỏ có nguồn sáng) vào miệng hoặc mũi và luồn xuống khí quản để quan sát các đường hô hấp. Qua ống này bác sĩ có thể lấy các mẫu tế bào hoặc mẫu mô nhỏ.
- Chọc hút băng kim. Một mũi kim được đâm xuyên qua thành ngực vào khối u để lấy mẫu mô.
- Chọc dịch màng phổi. Dùng kim lấy mầu dịch bao quanh phổi để tìm tế bào ung thư.
- Mở lồng ngực. Đôi khi cần phải tiến hành phẫu thuật mở lồng ngực để chẩn đoán ung thư phổi. Đây là một đại phẫu thuật được thực hiện ở bệnh viện.
Phân giai đoạn
Nếu đã chẩn đoán là ung thư phổi thì bác sĩ cần biết giai đoạn (hoặc là phạm vi) của bệnh. Tiến hành phân giai đoạn để biết được ung thư đã lan rộng chưa và nếu đã lan thì đến bộ phận nào của cơ thể. Ung thư phổi thường lan lên não hoặc vào xương. Biết được bệnh đang ở giai đoạn nào sẽ giúp cho bác sĩ lập kế hoạch điều trị.
Một số xét nghiệm được sử dụng để xác định mức độ lan của ung thư gồm:
- Chụp cắt lớp vi tính. Một máy vi tính được nối với một máy chụp X quang cho một loạt những bức tranh chi tiết về các bộ phận bên trong cơ thể.
- Chụp cộng hưởng từ hạt nhân. Một nam châm mạnh được nối với một máy vi tính cho những bức tranh chi tiết về các bộ phận bên trong cơ thể.

Phương pháp điều trị ung thư phổi

Điều trị bệnh ung thư phổiUng thư phổi là loại ung thư phổ biến và gây tử vong cao. Phương pháp điều trị căn bản cho ung thư phổi là hóa trị giúp kéo dài sự sống cho bệnh nhân. Với những bệnh nhân ung thư phổi, việc xét nghiệm gene sẽ giúp các bác sĩ đưa ra phương pháp điều trị thích hợp nhất cho bệnh nhân để kiểm soát tế bào ung thư.
1. Điều trị ung thư phổi
Phẫu thuật là mổ để cắt bỏ khối u. 
Phẫu thuật vẫn là phương pháp điều trị tốt nhất cho các bệnh nhân bị mắc ung thư. Hiện nay cắt thùy phổi là phẫu thuật giúp cắt bỏ hoàn toàn khối u, nếu khối u lớn hơn thì có thể cắt hai thùy hoặc cắt hết một lá phổi.
Phẫu thuật là phương pháp điều trị ung thư phổi mà bác sĩ tiến hành phụ thuộc vào vị trí của khối u trong phổi. Mổ để cắt bỏ chỉ một phần nhỏ của phổi được gọi là thủ thuật cắt bỏ phân thuỳ hoặc cắt hình chêm. Khi bác sĩ phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ một thuỳ phổi thì gọi là thủ thuật cắt bỏ thuỳ. Chữa trị ung thư phổi khi cắt bỏ phổi là lấy đi toàn bộ một lá phổi. Một số khối u không thể mổ được (không thể loại bở bằng phẫu thuật) do kích thước hoặc vị trí của khối u và một số bệnh nhân không thể tiến hành phẫu thuật vì những lí do về sức khỏe khác.
Khi không còn mổ được, xạ trị và hóa trị chỉ có giá trị nâng đỡ làm bớt đau, bớt ho. Hóa trị giúp kéo dài sự sống của người bệnh.
Hóa trị liệu
Là phương pháp điều trị ung thư phổi sử dụng thuốc chống ung thư để diệt các tế bào ung thư trên toàn cơ thể. Thậm chí sau khi ung thư được loại bỏ khỏi phổi thì các tế bào ung thư vẫn có thể xuất hiện ở những mô lân cận hoặc ở một vùng nào đó trong cơ thể. Có thể chữa trị bệnh ung thư phổi khi áp dụng hóa trị liệu để kiểm soát sự phát triển của tế bào ung thư hoặc là để giảm nhẹ triệu chứng. Hầu hết các loại thuốc chống ung thư được đưa vào cơ thể bằng đường tiêm tĩnh mạch trực tiếp hoặc qua một ống thông đưa vào một tĩnh mạch lớn và được lưu lại cho đến khi không cần nữa. Một số loại thuốc điều trị ung thư phổi ở dạng viên.
Điều trị bằng tia xạ
Là phương pháp điều trị ung thư phổi sử dụng tia có năng lượng lớn để tiêu diệt tế bào ung thư. Tia phóng xạ hướng vào một vùng giới hạn và chỉ tác dụng lên tế bào ung thư ở vùng đó. Có thể sử dụng tia phóng xạ trước khi phẫu thuật để làm co khối u lại hoặc là sau khi phẫu thuật để tiêu diệt tất cả những tế bào ung thư còn sót lại ở vùng phẫu thuật. Bác sĩ còn có thể chữa trị ung thư phổi khi sử dụng tia phóng xạ, thường là kết hợp với hóa trị liệu để điều trị ban đầu thay cho phẫu thuật. Tia phóng xạ còn có thể được áp dụng để làm giảm triệu chứng như khó thở. Trong điều trị ung thư phổi thường sử dụng xạ ngoài. Ngoài ra còn có thể đưa nguồn phóng xạ (hộp nhỏ chứa chất phóng xạ) trực tiếp vào khối u hoặc gần khối u (xạ áp sát).
Điều trị ung thư không phải tế bào nhỏ
Bệnh nhân bị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ có thể được điều trị theo một vài phương pháp. Lựa chọn phương pháp nào phụ thuộc chủ yếu vào kích thước, vị trí và phạm vi của khối u. Phẫu thuật là phương pháp phổ biến nhất để điều trị ung thư phổi loại này. Phẫu thuật lạnh, phương pháp điều trị gây đông và phá huỷ mô ung thư, có thể được sử dụng để kiểm soát triệu chứng ở những giai đoạn muộn của ung thư không phải tế bào nhỏ. Điều trị bẳng tia phóng xạ và hóa trị liệu có thể được sử dụng để làm chậm quá trình phát triển của bệnh và kiểm soát triệu chứng.
Điều trị ung thư tế bào nhỏ
Ung thư phổi tế bào nhỏ có thể lan rất nhanh. Trong nhiều trường hợp, tế bào ung thư có thể đã lan sang các bộ phận khác của cơ thể khi bệnh được chẩn đoán. Để tiếp cận tế bào ung thư trên toàn bộ cơ thể hầu như các bác sĩ luôn luôn sử dụng hóa trị liệu. Quá trình điều trị còn có thể bao gồm việc áp dụng tia phóng xạ chiếu vào khối u trong phổi hoặc những khối u ở những bộ phận khác trong cơ thể (chẳng hạn như ở trong não). Một số bệnh nhân được điều trị ung thư phổi bằng tia phóng xạ ở não ngay cả khi không tìm thấy ung thư ở vùng này. Phương pháp điều trị này, còn được gọi là liệu pháp chiếu xạ sọ não dự phòng, được áp dụng để ngăn ngừa sự hình thành khối u trong não. Phẫu thuật là một phần trong kế hoạch chữ trị ung thư phổi đối với một số ít bệnh nhân bị ung thư phổi tế bào nhỏ.
Kết quả điều trị: Tính chung, khoảng 25 trong số 100 người bệnh còn có thể phẫu thuật được khi khối u còn nhỏ. Phân nửa số này, nghĩa là khoảng 13% trên 100 người bệnh thì có khả năng khỏi bệnh 5 năm. Theo mộ số liệu thống kê của hội ung thư Hoa Kỳ năm 2013: Khi phát hiện lúc ung thư phổi còn chwadi căn, tỷ lệ sống sau 5 năm của ung thư phổi là 50%. Nhưng đáng tiếc là chỉ có 15% số ca ung thư phổi được chẩn đoán sớm. Khi ung thư đã di căn sang các bộ phận khác thì tỉ lệ sống của người bệnh chỉ có khoảng 3,5%.
2. Tác dụng phụ của điều trị ung thư phổi
Tác dụng phụ của việc điều trị ung thư phổi phụ thuộc vào phương pháp điều trị và có thể khác nhau đối với mỗi cá thể. Tác dụng phụ thường là tạm thời. Bác sĩ và y tá có thể giải thích những tác dụng phụ có thể xuất hiện trong quá trình điều trị và họ cũng có thể gợi ý những cách thức giúp làm giảm triệu chứng có thể phát sinh trong hoặc sau khi điều trị.
Phẫu thuật ung thư phổi là một đại phẫu thuật. Bệnh nhân thường cần phải có người giúp đỡ khi trở mình, ho và thở sâu. Những hoạt động này đóng vai trò quan trọng trong quá trình hồi phục bởi vì chúng giúp mở rộng mô phổi còn lại và loại bỏ khí và dịch thừa. Đau hoặc thấy khó chịu ở ngực và tay cũng như khó thở là những tác dụng phụ thường gặp trong phẫu thuật ung thư phổi . Sau khi điều trị ung thư phổi, bệnh nhân có thể cần vài tuần hoặc vài tháng để lấy lại năng lượng và sức mạnh của cơ thể.
Hóa trị liệu tác dụng lên cả tế bào thường và tế bào ung thư. Tác dụng phụ sẽ phụ thuộc chủ yếu vào loại thuốc và liều lượng cụ thể. Tác dụng phụ thường gặp của hóa trị liệu bao gồm buồn nôn và nôn, rụng tóc, đau miệng và mệt mỏi.
chữa trị ung thư phổi bằng phương pháp tia xạ , cũng giống như hóa trị liệu, ảnh hưởng tới cả tế bào thường và tế bào ung thư. Tác dụng phụ của tia phóng xạ chủ yếu phụ thuộc vào bộ phận được chiếu tia và liều chiếu. Tác dụng phụ thường gặp của tia phóng xạ là khô và đau họng, khó nuốt, mệt mỏi, thay đổi da ở vùng điều trị, mất cảm giác ăn ngon. Bệnh nhân được chiếu xạ vào não có thể bị đau đầu, thay đổi ngoài da, mệt mỏi, buồn nôn và nôn, rụng tóc hoặc là có vấn đề với trí nhớ và quá trình tư duy.
Sau khi điều trị ung thư phổi Liệu pháp quang động học làm cho da và mắt trở nên nhạy cảm với ánh sáng trong vòng sáu tuần hoặc là lâu hơn. Bệnh nhân nên tránh tiếp xúc với ánh nắng mặt trời trực tiếp và ánh đèn quá sáng ở trong nhà ít nhất trong vòng sáu tuần. Nếu bệnh nhân phải đi ra ngoài thì họ cần phải mặc quần áo bảo vệ và mang kính râm. Những tác dụng phụ tạm thời khác của phương pháp điều trị quang động học có thể bao gồm hiện tượng ho, khó nuốt, đau khi thở hoặc khó thở. Bệnh nhân nên thảo luận với bác sĩ về những việc cần phải làm khi da bị phồng rộp, tấy đỏ hoặc sưng lên
3. Ngăn ngừa ung thư phổi
Chưa có thuốc gì hay thức ăn nào có thể ngừa ung thư phổi. Không nên lạm dụng những chất vitamin tức sinh tố. Thí dụ, chất Beta-carotene là tiền sinh tố A ở lượng cao có thể gia tăng nguy cơ bị ung thư phổi.
Cách tốt nhất để giữ cơ thể khỏe mạnh là ăn uống điều độ và ăn đủ loại thực phẩm vì mỗi loại thức ăn có những yếu tố dinh dưỡng khác nhau cần thiết cho cơ thể. Ngưng hút thuốc lá có thể làm giảm nguy cơ ung thư phổi rất nhiều. Ngưng càng sớm càng tốt. Không hút thuốc lá là cách tốt nhất để ngừa ung thư phổi

Các dấu hiệu ung thư phổi

Ung thư phổi khi bệnh ở giai đoạn đầu thường không có biểu hiện gì rõ ràng, những biểu hiện đó thường khiến cho người bệnh dễ bị nhầm lẫn với các loại bệnh thông thường khác nên dễ chủ quan bỏ qua. Các triệu chứng ung thư phổi ban đầu thường thấy như: ho, đau ngực, khó thở, gầy sút cân, mệt mỏi,... Ho kéo dài, các thuốc chống viêm , trị ho không có tác dụng. Một nửa số người bệnh ho ra ít máu lẫn đờm. Bệnh nhân ung thư phổi cũng thường bị đau ngực, thường không có điểm đau rõ rệt, đau bên có tổn thương giống viêm dây thần kinh liên sườn. Có khi đau quanh bả vai, mặt trong cánh tay.

Hiện tượng khó thở chỉ gặp khi khối u chèn ép hoặc làm tắc khí phế quản, gây xẹp phổi, hoặc ung thư đã di căn màng phổi gây tràn dịch màng phổi. Ngoài ra, triệu chứng ung thư phổi căn bản còn bị khó nói hoặc nói giọng khan do khối u chèn ép vào dây thần kinh, khó nuốt do thực quản bị chèn ép, gầy sút, sốt nhẹ…
Việc chụp phổi bằng kỹ thuật X-quang thông thường, chụp cắt lớp vi tính hoặc chụp cộng hưởng từ có thể cho thấy khối u ở vị trí nào của phổi, kích thước bao nhiêu. Để chuẩn đoán đúng và phân loại ung thư, góp phần quyết định phương pháp điều trị ung thư phổi, cần xét nghiệm mô bệnh học và tế bào học.
Để phát hiện sớm ung thư phổi, nam giới từ 40 tuổi trở lên nếu nghiện thuốc lá kèm ho khan hoặc ho có đờm kéo dài nên đến bệnh viện 4 tháng/lần để chiếu chụp phổi, lấy đờm, dịch phế quản làm xét nghiệm tế bào học (5-8% số người đi khám được phát hiện ung thư phổi sớm). ở cả hai giới từ 40 tuổi trở lên, nếu có các dấu hiệu sút cân, ho kéo dài hoặc ho ra máu, đau ngực, khó thở, khó nói hoặc khó nuốt thì cần đi khám và làm các xét nghiệm.

Về điều trị ung thư phổi tùy theo từng bệnh nhân, bác sĩ chỉ định phương pháp điều trị phù hợp. Tuy nhiên cách phòng ngừa ung thư phổi là tạo môi trường sống sạch đẹp, bầu không khí trong lành, không hút thuốc lá, điều trị khỏi những bệnh của phế quản, phổi như viêm phế quản mạn, lao phổi. Ở độ tuổi 40 nên đi khám bệnh, chụp X-quang phổi định kỳ 6 tháng hoặc 1 năm.

Dấu hiệu ung thư phổi di căn

Nhiều dấu hiệu của ung thư phổi lúc đầu rất mập mờ và hay bị nhầm lẫn với những bệnh thông thường khác, do vậy khi được phát hiện thì bệnh đã bị nặng hơn. Khi ung thư phổi phát triển nặng hơn thường có các triệu chứng sưng phổi, nặng ngực, thở thấy nặng nặng, hay cảm cúm mệt mỏi. Ho húng hắng và dai dẳng, không thấy gì khác hơn cơn ho cảm bình thường, nhất là ở người có tuổi và hay hút thuốc lá thì dễ nghĩ là "tại mấy hôm trời lạnh mà lại yếu phổi".
Ung thư phổi càng về lâu càng diễn tiến xấu hơn, đau vai đau lưng thường xuyên, thở sâu thấy nặng hơn, ho ra máu, hơi thở ngắn đi, khàn tiếng, viêm thanh quản lặp đi lặp lại, đờm dính máu, phù mặt cổ, thở khó. Sụt cân vô cớ, không thèm ăn, hay mệt mỏi có thể là những triệu chứng báo động của bệnh ung thư phổi. Vì hầu hết ung thư phổi được phát hiện ở giai đoạn rất muộn nên việc điều trị cho kết quả không khả quan.
Dấu hiệu nhận biết ung thư phổiDấu hiệu ung thư phổi di căn thường ho không hết, đặc biệt ho ra máu, gây đau ngực, khó thở…
Ung thư phổi có thể di căn và thường di căn theo chính đường hô hấp trong cơ thể. Các tế bào ung thư có thể đi qua đường máu và di căn qua đường bạch huyết đến các hạch bạch huyết… hay gặp nhất là não, xương, gan, hạch ngoại vị , tuyến thượng thận, phổi bên đối diện.
Triệu chứng ung thư phổi giai đoạn cuối:
Với một bệnh nhân ung thư phổi khi đã di căn đến phủ tạng khác thì chuyển sang gian đoạn 4- "muộn".
- Chất lỏng có chứa tế bào ung thư đã hình thành không gian quanh phổi, dẫn đến khó thở.
- Tắc nghẽn hoặc chảy máu từ đường hô hấp lớn: Ung thư phổi phát triển gần đường hô hấp, lây lan của khối u vào đường thở có thể gây ra tắc nghẽn và chảy máu.
- Đau xương: Ung thư phổi thường lây lan đến xương ngực và xương sống. Thuốc giảm đau có thể được sử dụng kiểm soát cơn đau, nhưng đôi khi xạ trị cũng được sử dụng để giảm đau hoặc giúp ngăn ngừa gãy xương.
- Di căn lên não: triệu chứng gây nhức đầu, động kinh.
Điều trị ung thư phổi giai đoạn cuối:
Trong giai đoạn này, bệnh nhân ung thư phổi được điều trị giảm nhẹ để nhằm mục đích kiểm soát và kéo dài cuộc sống của bệnh nhân, nâng cao chất lượng cuộc sống. Chẳng hạn như bệnh nhân ung thư phổi di căn thường có những đau đớn do những tổn thương di căn gây ra thì người ta phải kiểm soát đau để làm cho bệnh nhân giảm đau hoặc chúng ta phải điều trị cho bệnh nhân để đề phòng những biến chứng có thể xảy đến với bệnh nhân ví dụ như di căn xương sẽ có thể dẫn đến gãy xương.
Vì vậy, người ta vẫn áp dụng những phương pháp điều trị ung thư phổi hiện đại, đặc biệt là hóa chất để điều trị cho bệnh nhân nhưng không phải là chữa khỏi mà là kéo dài, để kiểm soát bệnh và để nâng cao chất lượng cuộc sống và giảm nhẹ các đau đớn ở giai đoạn cuối.