ung thư não

Hiển thị các bài đăng có nhãn ung thư não. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ung thư não. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 18 tháng 12, 2014

Một số phương pháp điều trị ung thư não do di căn hiện nay.


Ung thư não do di căn là những khối u ở não có nguồn gốc từ các mô hoặc từ các cơ quan bên ngoài não. Di căn là biến chứng thường gặp của ung thư toàn thân và là nguyên nhân quan trọng gây tử vong ở các bệnh nhân mắc ung thư. Phương thức điều trị phụ thuộc vào vị trí, kích thước khối u, tình trạng sức khỏe bệnh nhân.
U não
Một số phương pháp điều trị u não do di căn hiện nay là:
1.     Phẫu thuật.
Do tính chất dễ tổn thương của mô não nên việc lựa chọn thao tác phẫu thuật sao cho phù hợp là vô cùng quan trọng.. Đối với ung thư não nguyên phát có thể dùng phương pháp phẫu thuật ngoại khoa để cắt bỏ.
Trong những trường hợp đặc biệt khối u nằm trong vùng quan trọng của não (thường ở cùng vận động hoặc vùng ngôn ngữ) ,các kỹ thuật vi phẫu được sử dụng. Kính hiển vi phẫu thuật có vai trò bảo vệ những dây thần kinh và mạch máu quan trọng,giảm nguy cơ tổn thương. Máy hút siêu âm tạo điều kiện cho việc cắt bỏ khối u. Khối u não có thể được xử lý bằng cách phẫu thuật tiếp xúc (stereotactic surgery) có hướng dẫn - CT hoặc MRI. Nếu các ranh giới của khối u khó xác định thì bác sĩ có thể phải ngừng cắt bỏ khối u để giảm thiểu nguy cơ gây tổn hại đến phần não khác.
2.     Xạ trị.
Có 2 loại xạ trị hiện nay là xạ trị thông thường và xạ phẫu.
   - Xạ trị thông thường. Đây là phương pháp điều trị duy nhất cho bệnh nhân nhân ung thư hạch lympho vì các tế bào này rất nhạy cảm với chất phóng xạ.  Toàn bộ não sẽ được bức xạ trong khoảng từ 1-2 tuần. Xạ trị đươc sử dụng sau khi bệnh nhân thực hiện phẫu thuật nhằm loại bỏ hoàn toàn tế bào ung thư còn xót lại.
   - Xạ phẫu. Xạ phẫu là phương pháp thích hợp cho di căn có đường kính 3cm hoặc ít hơn. Các máy Gamma Knife sử dụng chùm tia gamma hẹp, nhằm chính xác vào các khối u từ nhiều hướng vòng quanh đầu. Phương pháp này đòi hỏi cần xác định được chính xác vị trí của khối u.
3.     Hóa trị.
Phương pháp hóa trị được các bác sĩ khuyên dùng đối với u dịch tủy sống và vẫn còn đang được kiểm tra để sử dụng đối với các khối u não do di căn.
Tác dụng phụ của phương pháp hóa trị trong điều trị u não di căn là bệnh nhân thường mệt mỏi, rụng tóc, cơ thể suy nhược, chán ăn…
Nhìn chung tiên lượng di căn não là khá xấu. Bệnh nhân mắc ung thư di căn não thường tử vong sau khoảng 2 năm. Các yếu tố tiên lượng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như khối u nguyên phát hay thứ phát, vị trí, kích thước, mức độ xâm lấn của khối u, phương pháp điều trị, tình trạng sức khỏe, tâm lý bệnh nhân…
Việc thăm khám và phát hiện sớm bênh có vai trò quan trọng trong điều trị ung thư não do di căn, kéo dài thời gian sống cho người bệnh.
Nguồn : http://benhvienungbuouhungviet.vn/tim-hieu-benh-ung-thu/ung-thu-nao/mot-so-phuong-phap-dieu-tri-u-nao-do-di-can-hien-nay.aspx

Điều trị ung thư não

Việc điều trị ung thư não phụ thuộc vào vị trí và kích thước của khối u, độ tuổi và sức khỏe tổng thể của bệnh nhân. Bác sĩ điều trị sẽ luôn điều chỉnh để đáp ứng nhu cầu và yêu cầu sức khỏe của bệnh nhân. Một số tùy chọn cho việc điều trị ung thư não bao gồm phẫu thuật, xạ trị, và hóa trị. Điều quan trọng là bạn cần phải đến khám bác sĩ trước tiên để có kế hoạch điều trị thích hợp.
Trước tiên chúng ta tìm hiểu xem nguyên nhân gây u não là gì?
Một vài bệnh di truyền đã được xác định có thể làm tăng nguy cơ phát triển các khối u não. Ví dụ, trong bệnh di truyền được gọi là Hội chứng Von Hippel-Lindau, con cái, anh chị em ruột và người thân có thể phát triển khối u ở tiểu não và các bộ phận khác của cơ thể như u thận ác tính.
Nghiên cứu cho thấy những bất thường di truyền ở một số khối u não. Một số khối u cũng được biết là có tỉ lệ mắc phải cao hơn trong những gia đình nhất định.
Tuy nhiên, trong đa số trường hợp, nguyên nhân gây ung thư não chưa được biết rõ. Hiện tại chưa có bằng chứng khoa học rõ ràng nào chứng minh chấn thương, tiếp xúc với hóa chất, nhiễm trùng virus, sử dụng điện thoại di động, các yếu tố môi trường hoặc căng thẳng tâm thần có thể gây ra sự tăng trưởng của các khối u não.
Triệu chứng của u não:
Các triệu chứng có thể là tổng quát hay cục bộ. Các triệu chứng tổng quát là do áp lực gia tăng ảnh hưởng lên não và bao gồm:
- Nhức đầu tái diễn có thể trở nên tệ hơn vào buổi sáng
- Buồn nôn và ói mửa
- Động kinh
- Buồn ngủ gia tăng
Các triệu chứng cục bộ phụ thuộc vào vị trí của khối u và bao gồm:
- Sự yếu hay tê/liệt ngày càng tăng ở cánh tay hoặc chân
- Ngày càng gặp khó khăn khi nói, nghe, tập trung hoặc nhìn, bao gồm chứng song thị
- Mất trí nhớ hoặc thay đổi trong trí nhớ
- Thay đổi đáng kể trong tính cách hoặc hành vi
Một số những triệu chứng này cũng có thể được gây ra bởi các điều kiện khác không phải u não. Do đó, bạn nên tìm đến ý kiến của chuyên gia phẫu thuật thần kinh nếu các triệu chứng kéo dài.
Những ai có nguy cơ phát triển khối u não?
Các khối u não có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng các khối u xuất hiện trong giai đoạn trẻ thơ thường khác với khối u được chẩn đoán ở người lớn.
Lựa chọn phương pháp điều trị bệnh u não:
Phẫu thuật:
Trong hầu hết trường hợp, phẫu thuật bằng cách sử dụng các kỹ thuật vi phẫu là cần thiết để loại bỏ càng nhiều khối u càng tốt và gây tổn thương tối thiểu đến não. Mô não cực kỳ mỏng manh và có thể bị tổn thương vĩnh viễn từ áp lực quá mức hay sự gián đoạn cung cấp máu. Những rủi ro của phương pháp phẫu thuật bao gồm nhiễm trùng, xuất huyết, động kinh, liệt, hôn mê và tử vong.
Thiết bị tinh vi hiện có giúp việc phẫu thuật an toàn và hiệu quả hơn. Sử dụng hệ thống định vị vi tính cho phép bác sĩ giải phẫu thần kinh định vị chính xác khối u và đồng thời định vị xung quanh khu vực quan trọng của não. Kính hiển vi phẫu thuật tạo điều kiện cho việc bảo quản những dây thần kinh và mạch máu quan trọng, từ đó giảm nguy cơ tổn thương. Máy hút siêu âm cũng có sẵn để tạo điều kiện cho việc cắt bỏ khối u. Khối u não có thể được xử lý qua một lỗ nhỏ được tạo ra trên hộp sọ bằng cách phẫu thuật tiếp xúc (stereotactic surgery) có hướng dẫn - CT hoặc MRI. Nếu các ranh giới của khối u không thể dễ dàng xác định thì bác sĩ giải phẫu thần kinh có thể phải ngừng cắt bỏ khối u để giảm thiểu nguy cơ gây tổn hại đến phần não bình thường.
Trong những trường hợp đặc biệt khi khối u nằm ở các khu vực quan trọng của não, thường là trung tâm nói hay vận động, phẫu thuật thậm chí có thể được thực hiện khi các bệnh nhân được làm giảm đau nhưng còn tỉnh táo. Các khu vực quan trọng có thể được xác định rõ ràng hơn bằng cách kích thích chúng với một dòng điện yếu và khối u được loại bỏ với sự giám sát liên tục khả năng nói và sức mạnh chi của bệnh nhân. Mục tiêu tổng quát là để loại bỏ khối u càng nhiều càng tốt với ít tổn thương nhất là đến các khu vực quan trọng.
Khi khối u não nhỏ và nằm sâu, sự cắt bỏ khối u mở rộng có thể là không được.Trong tình huống như vậy, một khung tiếp xúc (stereotactic) có thể được thiết lập và sinh thiết có hướng dẫn - CT hoặc MRI được thực hiện. Một mảnh nhỏ của khối u được lấy và gửi đi điều tra chẩn đoán.
Xạ phẫu:
Đối với một vài khối u ung thư nhỏ, phẫu thuật dao Gamma sử dụng tia gamma tập trung rất mạnh có thể được tiến hành trong một vài giờ để kiềm hãm sự tăng trưởng của khối u mà không cần phẫu thuật.
Xạ trị:
Đối với các khối u ung thư não mà không thể cắt bỏ hoàn toàn, phẫu thuật có thể được tiếp tục với điều trị bằng tia bức xạ bên ngoài chiếu từ một máy gia tốc tuyến tính trong 2-6 tuần để tiêu diệt các tế bào khối u còn lại.
Hóa trị:
Thuốc giúp tiêu diệt hoặc làm chậm sự tăng trưởng của tế bào ung thư có thể được sử dụng bằng cách uống qua miệng hoặc bằng cách tiêm qua tĩnh mạch. Rụng tóc, buồn nôn và dễ bị nhiễm trùng là những tác dụng phụ có thể xảy ra của hóa trị.
Phục hồi chức năng:
Phục hồi có thể bị hạn chế bởi mức độ tổn thương gây ra do khối u và khả năng hồi phục của não. Chuyên gia trị liệu luôn sẵn sàng để bắt đầu quá trình vật lý trị liệu, liệu pháp nghề nghiệp và điều trị tư vấn tại các phòng bệnh. Nếu có những khuyết tật kéo dài, bệnh nhân có thể được chuyển đến khoa phục hồi chức năng hoặc đến một cơ sở chăm sóc điều dưỡng trong giai đoạn sau của quá trình phục hồi chức năng để tối đa quá trình phục hồi. Để phục hồi tốt nhất, bệnh nhân và gia đình nên duy trì một thái độ tích cực, thiết lập mục tiêu thực tế và làm việc ổn định để đạt được từng mục tiêu.

Dấu hiệu và những nguy cơ của ung thư não

Dù mắc phải bất kỳ bệnh ung thư nào cũng đều gây ra nỗi sợ hãi và lo lắng cho người bệnh và người thân. Ung thư não thực sự là một bệnh nghiêm trọng, nhưng thường nó có thể được điều trị cho kết quả tích cực. Biết được nguyên nhân, triệu chứng của bệnh ung thư não có thể giúp người bệnh nhận biết và phát hiện sớm với các dấu hiệu mà mình đang mắc phải và có hướng điều trị thích hợp.
Ung thư não là gì?
Bệnh ung thư não là khái niệm chung để chỉ các khối u ác tính ở não chứa các tế bào ung thư. Chúng ảnh hưởng đến các chức năng sống và gây nguy hiếm cho tính mạng. Các khối u này thường lớn lên nhanh và xâm lấn vào mô lân cận. Cũng giống như một loại cây, các khối u này có thể “mọc rễ" vào mô lành của não. Nếu khối u ác tính ở não là rán và không có rễ, đó là khối u có vỏ bọc. Khi có một khối u ở vùng điều hành chức năng sống của não và ánh hưởng đến các chức năng này thì chúng cũng có thể được coi là khối u ác tính (mặc dù chúng không chứa tế bào ung thư.
Các yếu tố nguy cơ và nguyên nhân của ung thư não là gì?

Nguyên nhân gây ra u não chưa được xác định. Các nhà nghiên cứu đang cố gắng giải quyết vấn để này. Họ càng tìm hiểu được nhiều về các nguyên nhân gây ra u não thì cơ bội tìm ra các cách phòng chống càng lớn. Bác sĩ không thể giải thích tại sao người này bị u não những người khác lại không bị, những các nhà nghiên cứu biết rằng không ai bị lây u não từ một người khác. U não không phải là bệnh truyền nhiễm. Mặc dù các khối u não có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi, các nghiên cứu cho thấy chúng phổ biến nhất ở hai nhóm tuổi. Nhóm thứ nhất là trẻ em từ 3 đến 12 tuổi; nhóm thứ hai là ở người lớn từ 40 đốn 70 tuổi.
Bảng cách nghiên cứu một số lượng lớn bệnh nhân ung thư, các nhà nghiên cứu đã tìm ra một số yếu tố nguy cơ nhất định có thể làm tăng nguy cơ phát triển u não. Người có những yếu tố nguy cơ này có tỷ lệ bị u não cao hơn mức trung bình.
Ví dụ, các nghiên cứu cho thấy một số loại u não thường xuất hiện hơn ở những công nhân trong một số ngành công nghiệp nhất định như lọc dầu, sản xuất cao su và sản xuất được phẩm. Các nghiên cứu khác cho thấy, các nhà khoa học và những người làm nghề ướp xác có tỷ lộ u não cao hơn. Các nhà nghiên cứu cũng đang xem xét việc tiếp xúc với virút có thể là một nguyên nhân gây u não hay không. Vì đôi khi một số thành viên trong cùng một gia đình có thể bị u não, các nhà nghiên cứu cũng đang nghiên cứu tiền sử gia đình để xem yếu tố di truyền có phải là nguyên nhân hay không.
Hiện nay các nhà khoa học không tin rằng chấn thương ở đâu có thể dẫn đến u não. Trong hầu hết các trường hợp, bệnh nhân u não không có yếu tố nguy cơ rõ ràng. Bệnh này có thể là kết quả của nhiều yếu tố nguy cơ cùng tác động.
Ung thư não được phát hiện như thể nào? Triệu chứng của ung thư não là gì?
Triệu chứng của ung thư não phụ thuộc chủ yếu vào kích thước và vị trí của khối u trong não. Triệu chứng xuất hiện do tổn thương phân mô não điều khiển các chức năng sống quan trọng hoặc do chèn ép não vì khối u phát triển trong khoảng trống có giời hạn của bộp sọ. Các triệu chứng có thể do tình trạng phù tổ chức xung quanh khối u hoặc do hiện tượng não úng thủy tức là khối u cản trở dòng dịch não tủy và gây ứ dịch trong não. Nếu khôi u não phát triền chậm, triệu chứng của chúng có thể xuất hiện một cách từ từ đến mức chúng bị bỏ qua trong một thời gian dài.
Triệu chứng thường gặp nhất của u não bao gồm:
- Đau đầu, đặc biệt vào buổi sáng và đỡ đần trong ngày
- Co giật
- Buồn nôn hoặc nôn
- Yếu hoặc mất cám giác ở tay hoặc chân
- Mất thăng bằng khi đi lại
- Cử động nhãn cầu bất thường hoặc thay đổi thị giác
- Buồn ngủ
- Thay đối tính cách hoặc trí nhở
- Thay đổi ngôn ngữ
Những triệu chứng này có thể do u não gây ra nhưng cũng có thể do các bệnh khác gây ra. Chỉ có bác sĩ mới có thể đưa ra chẩn đoán.
Khối u não nguyên phát
Khối u bắt đầu ở mô não được gọi là khối u não nguyên phát. Nó khác với khối u thứ phát là khối u xuất hiện khi ung thư lan vào não. Khối u não nguyên phát được phân loại theo loại mô nơi chúng xuất hiện. Loại u não thường gặp nhất là u thần kinh đệm xuất phát từ mô đệm. Có nhiều loại u mô đệm:
U tế bào hình sao xuất phát từ những tế bào nhò hình sao (tiếng Anh gọi là astrocyt). Các u tế bào hình sao có thể phát triển ở khắp mọi nơi trong não bộ hoặc tủy sống. Ở người lớn u tế bào hình sao thường xuất hiện ở đại não. Ở trẻ em, chúng xuất hiện ở thân não, đại não và tiểu não. u tế bào hình sao cấp độ III có thể được gọi là u tế bào hình sao không biệt hóa. U tế bào hình sao cấp độ IV thường được gọi là u nguyên bào đệm nhiều dạng.
U thần kinh đệm ở thân não xuất hiện ở phần thân não. Thân não kiểm soát nhiều chức năng sống quan trọng. Các khối u ở vùng này nói chung không thể cắt bỏ được. Hấu hết u thần kinh đệm thân não là u tế bào hình sao cấp độ cao.
u tế bào màng não thất thường phát triển trong lớp niêm mạc lót não thất, chúng còn có thể xuất hiện ở tuỷ sống. Mặc dù chúng có thể phát triển ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp nhất ở trẻ em và thanh niên.
U tế bào thần kinh đệm có đuôi gai xuất hiện từ những tế bào sản xuất myelin - lớp vỏ bọc mã bảo vệ dây thần kinh. Những khối u này thường xuất hiện ở đại não. Chúng phát triển chậm và thường không lan vào các mô não lân cận. u thần kinh đệm có đuôi gai thường hiếm gặp. Chúng thường gặp nhất ở lứa tuổi trung niên nhưng đã phát hiện ra các trường hợp mắc loại ung thư này ở mọi lứa tuổi. Còn có các loại u não khác không xuất phát từ mô đệm. Một số loại ung thư thường gặp nhất được trình bày dưới đây:
U nguyên tủy bào trước đây được cho là phát triển từ tế bào đệm. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây chỉ ra những khối u này phát triển từ những tế bào thần kinh nguyên thủy, những tế bào này thông thường không còn lại trong cơ thể sau khi đứa trẻ ra đởi. Vì lý do này, u nguyên tế bào đôi khi còn được gọi là u tế bào thần kinh lá phổi ngoài nguyên thưý (PNET). Hầu hết u nguyên tủy bào xuất hiện ở tiếu não; tuy nhiên chúng cũng có thể xuất hiện ở các vùng não khác. Những khối u này thường xuất hiện ỡ trẻ em và thường gặp nhiều ở trẻ trai hơn trẻ gái.
U màng não phát triển ở màng nào. Chúng thường là những khối u lành tính. Bởi vì những khối u này phát triển chậm, nào có thể điều chỉnh theo chúng; u màng não thường phát triển khá lớn trước khi chúng gây ra triệu trứng, chúng thường xuất hiện ở những phụ nữ trong độ tuổi 30-50.
U tế bào Schwann là những khôi u lành tính xuất phát từ những tế bào sợi thần kinh Schwann là tế bào sản xuất myelin bảo vệ dây thần kinh thính giác,u dây thần kinh thính giác là một loại u tế bào Schwann. Chúng chủ yếu xuất hiện ở người lớn. Loại ung thư này gặp ở nữ giới nhiều gấp đôi nam giới.
U sọ hầu phát triển ở vùng tuyến yên gán vùng dưới đồi thị. Chúng thường là lành tính; tuy nhiên đôi khi chúng được coi là ác tính bởi vì chúng có thể chèn ép lên hoặc huy hoại vùng dưới đồi thị gây ánh hưởng tới các chức năng sống quan trọng của cơ thể. Những khối u này thường gặp nhất ở trẻ em và thanh niên.
U tế bào mầm xuất phát từ những tế hào mầm (tế bào sinh dục) nguyên thủy. Loại ung thư tế bào mầm trong não thường gặp nhất là u tế bào mầm.
U vùng tuyến tùng xuất hiện ở trong hoặc xung quanh tuyến tùng là một bộ phận nhỏ gần trung tâm não. Khối u có thể là u tế bào tuyến tùng phát triển chậm hoặc u nguyên bào tuyến tùng phát triển nhanh. Khu vực tuyến tùng là vị trí rất khó tiếp cận và những khối u này thường không thể cắt bỏ.
Khối u não thứ phát
Di căn là quá trình lan của ung thư. Ung thư xuất phát từ một bộ phận khác của cơ thề có thể lan vào não và hình thành khối u thứ phát. Những khối u này không giống như khối u não nguyên phát. Ung thư lan vào não có cùng tên với ung thư gốc (nguyên phát). Ví dụ, nếu ung thư phổi lan vào não thì u ở não là ung thư phổi di căn bởi tế bào trong khối u thứ phát là tế bào phổi bắt thường chứ không phài tế bào não bắt thường. Điều trị ung thư thứ phát tùy thuộc vào vị trí ung thư nguyên phát và phạm vi lan cũng như các yếu tố khác bao gồm độ tuổi, tình trạng sức khỏe chung của bệnh nhân và đáp ứng với điều trị trước đó.
Thực tế thì bác sĩ chuẩn đoán ung thư não như thế nào?
Thông thường, nếu bạn có những triệu chứng phát triển chậm, bạn sẽ tới gặp bác sỹ để kiểm tra. Nếu khối u não đáng ngờ họ sẽ giới thiệu bạn tới các bác sĩ chuyên ngành, có thể là bác sĩ chuyên khoa thần kinh hoặc bác sĩ chuyên khoa ung thư (người chuyên trong việc điều trị ung thư). Đôi khi người bị u não có thể có những cơn động kinh đột xuất và được đưa thẳng đến bệnh viện để làm các xét nghiệm chuẩn đoán về khối u.
Tại bệnh viện các bác sĩ sẽ lấy chi tiết bệnh sử và hỏi bạn về những triệu chứng nếu có. Sau đó bạn sẽ được thăm khám tổng hợp có thể bao gồm nghe nhịp tim, xem vùng bụng để kiểm tra tình trạng sức khỏe chung của bạn, và bạn sẽ được xét nghiệm chi tiết để kiểm tra hệ thống thần kinh.
Kiểm tra hệ thống thần kinh có thể bao gồm:
- Kiểm tra thần kinh với các số và câu hỏi đơn giản
- Kiểm tra mắt bằng kính soi đáy mắt (công cụ chiếu sáng ở đáy mắt). Xét nghiệm này được thực hiện để kiểm tra đĩa thị giác của mắt bạn có bị sưng phồng hay không. Trường hợp đĩa thị giác sưng phồng lên gọi là phù gai thị và đó chính là dấu hiệu của áp lực trong hộp sọ. Tầm nhìn xung quanh của bạn cũng sẽ được kiểm tra.
- Kiểm tra thính giác.
- Kiểm tra cơ mặt: cười, nhăn mặt.
- Chuyển động của lưỡi, kiểm tra phản xạ nuốt của bạn.
- Kiểm tra sức mạnh của cánh tay và cẳng chân, phản xạ của đầu gối và các phản xạ khác. Bác sỹ sẽ kiểm tra cảm nhận của bạn khi bị kim châm vào da, cảm nhận về nóng và lạnh, khả năng nhận biết cảm giác, phân biệt các vật giống nhau như tiền…
- Kiểm tra sự thăng bằng và phối hợp của bạn (vi du, họ sẽ yêu cầu bạn đi vài bước hoặc thực hiện lại một số động tác).
Các kiểm tra chuyên sâu:
Tại bệnh viện bạn có thể sẽ phải làm một số các xét nghiệm sau đây. Bác sỹ của bạn sẽ chọn lựa các xét nghiệm phù hợp nhất đối với trường hợp cụ thể của bạn thông qua các triệu chứng.
Chụp cắt lớp não (Chụp CT não):
Phương pháp này sử dụng rất nhiều tia để tạo nên hình ảnh 3 chiều của phần bên trong đầu. Trong quá trình xét nghiệm bạn có thể sẽ được yêu cầu đặt đầu vào trong một máy scan đang mở. Việc scan thì không đau nhưng khá lâu (khoảng 10 đến 20 phút). Nó có thể sử dụng để xác định kích thước chính xác của khối u.
Hầu hết mọi người khi chụp CT sẽ phải tiêm một loại chất lỏng vào ven để tạo được hình ảnh rõ hơn của một vùng nhất định của não. Việc tiêm có thể khiến bạn cảm thấy nóng ran lên trong khoảng vài phút. Trước khi tiêm bạn cần phải nói cho bác sĩ hoặc người làm xét nghiệm biết nêu bạn hay bị dị ứng với hoá chất hoặc bị hen suyễn. Thông thường vẫn cần phải tiêm nhưng bạn sẽ phải sử dụng hợp chất Xteroi trước và trong ngày tiêm. Bạn sẽ được trở về nhà ngay sau khi kết thúc việc chụp não.
Chụp não bằng cộng hưởng từ – MRI:
Việc xét nghiệm này khá giống với chụp CT nhưng nó dùng từ trường thay cho tia X-quang để tạo nên hình ảnh mặt cắt ngang của não. Trước khi tiến hành xét nghiệm, một số người sẽ được tiêm hóa liệu màu vào ven cánh tay để tạo sự sắc nét của ảnh. Trong quá trình chụp bạn sẽ phải nằm yên trên một chiếc giường bên trong một khoang dài khoảng 1 giờ. Cái này có vẻ bất tiện với những ai không thích những khoảng không gian hẹp, nếu thế sẽ tốt hơn nếu bạn đề cập vấn đề đó với người thực hiện chụp cho bạn. Quá trình chụp thì sẽ rất ồn nhưng bạn sẽ được đeo nút bịt lỗ tai hoặc tai nghe. Thông thường họ cũng sẽ cho một người nhà của bạn vào cùng để bạn an tâm hơn.
Khoang rỗng đó là một nam châm cực mạnh do đó trước khi bước vào phòng bạn cần phải bỏ tất cả các đồ dùng cá nhân bằng kim loại nếu không sẽ không thể thực hiện chụp MRI được vì lý do nhiễm từ. Chụp MRI không đau nhưng mất khoảng 30 phút.
Chụp sọ:
Rất hiếm trường hợp khối u não hiển thị trên hình chụp sọ. Xét nghiệm này đơn giản và không đau nhưng bạn sẽ phải nằm trên giường chụp trong phòng X-quang của bệnh viện và phải giữ yên đầu trong khoảng vài phút.
Chụp ổ bụng:
Xét nghiệm chụp ổ bụng thường được sử dụng để đảm bảo rằng phổi của bạn vẫn khỏe và thăm khám khả năng về khối u nguyên phát.
Chụp positron cắt lớp (chụp PET):
Kiểu chụp này cung cấp hình ảnh động của não bằng việc tiêm đường gluco có gắn với một lượng nhỏ chất phóng xạ. Mũi tiêm sẽ được thực hiện ở ven phía sau của tay và lượng gluco này sẽ được đưa lên não. Khối u thường hấp thụ gluco và chất phóng xạ hiển thị trên hình chụp.
Bản chụp PET có thể cung cấp các thông tin liệu khối u có đang tiếp tục phát triển hay không, là u lành tính hay ác tính. Sau khi tiêm ven bạn sẽ được yêu cầu nằm yên trong một phòng tối và nhắm mắt. Sau đó bạn sẽ được đưa vào trong phòng chụp và sẽ được yêu cầu nằm trên một chiếc giường chụp với cái đai được thắt xung quanh người. Lượng thuốc phóng xạ bạn được tiêm vào người sẽ không nhiều hơn một tia xạ thông thường.
Động mạch não đồ:
Động mạch đồ hiển thị cấu trúc của mạch máu và có thể hiển thị vị trí của khối u bên trong não. Đó có thể là thông tin hữu ích cho trường hợp được lên kế hoạch phẫu thuật. Trước tiên một ống nhỏ (ống thông nước tiểu) được đưa vào trong động mạch (thường là vùng bẹn) trong tình trạng gây mê cục bộ hoặc tổng hợp. Khi ống thông nước tiểu đã được đặt vào đúng vị trí, dược phẩm mầu sẽ được đưa vào cùng với các tia xạ tới mạch máu não. Bạn có thể phải ở lại qua đêm ở bệnh viện để thực hiện động mạch đồ và thường bạn sẽ được tiêm thuốc ngủ hoặc thuốc gây mê để thực hiện xét nghiệm này.
Điện não đồ:
Đây là phương pháp ghi lại những hoạt động của điện bên trong não. Trong quá trình xét nghiệm, dây điện sẽ được nối với một đĩa nhựa nhỏ gắn với đầu bạn khi đã bôi một dung dịch đặc biệt lên đầu. Các xung thần kinh ghi được sẽ được in ra giấy. Cuộc xét nghiệm này sẽ mất khoảng 1 giờ, hoàn toàn an toàn và không hề đau. Bạn không cần phải cắt tóc mà sau khi thực hiện xét nghiệm bạn có thể gội sạch dung dịch đã được bôi vào đầu.

Triệu chứng ung thư não

Triệu chứng của ung thư não phụ thuộc chủ yếu vào kích thước và vị trí của khối u trong não. Triệu chứng xuất hiện do tổn thương phân mô não điều khiển các chức năng sống quan trọng hoặc do chèn ép não vì khối u phát triển trong khoảng trống có giời hạn của bộp sọ. Các triệu chứng có thể do tình trạng phù tổ chức xung quanh khối u hoặc do hiện tượng não úng thủy tức là khối u cản trở dòng dịch não tủy và gây ứ dịch trong não. Nếu khôi u não phát triền chậm, triệu chứng của chúng có thể xuất hiện một cách từ từ đến mức chúng bị bỏ qua trong một thời gian dài.
Những triệu chứng thông thường:
Triệu chứng & dấu hiệu của ung thư nãoỞ giai đoạn sớm, hầu hết ung thư não thường dẫn tới đau đầu và cảm giác bị ốm (buồn nôn). Những triệu chứng xuất hiện thường do việc tăng áp lực tới vùng não do sự phát triển của khối u. Sự tăng áp lực gọi là tăng áp lực nội sọ (ICP).
Tất nhiên có rất nhiều lý do khác dẫn đến đau đầu và có cảm giác ốm, nhưng nếu bạn bị như thế vài tuần mà không có dấu hiệu tiến triển thì rất cần phải đến gặp bác sĩ.
Những cơn đau đầu dữ dội thường đến vào các buổi sáng và thường làm bạn thức giấc. Thông thường đau đầu kiểu này sẽ giảm hơn trong ngày. Tuy nhiên, nó có thể đau hơn khi bạn ho, hắt hơi, cúi xuống hoặc làm các công việc nặng khác. Tất cả những việc đó đều có xu hướng gây tăng áp lực lên não.
Nếu việc tăng áp lực khiến bạn bị ốm thì bạn sẽ bị nặng vào buổi sáng, giảm nhẹ đi trong ngày, đôi khi nó còn khiến bạn bị nấc. Như đã mô tả ở trên, tăng áp lực trong hộp sọ cũng gây rối loạn tầm nhìn của bạn khiến bạn bị nhầm lẫn và ảnh hưởng đến khả năng thăng bằng.
Một dấu hiệu thường gặp khác của ung thư não là chứng động kinh dẫn đến ngất, các cơn co thắt hoặc những thời điểm vô thức. Có những cơn đau có thể rất dữ dội nhưng không nhất thiết là do một khối u não. Tuy nhiên bạn rất cần phải đến phòng y tế để kiểm tra nguyên nhân chính xác và có biện pháp chữa trị phù hợp.
Những triệu chứng liên quan đến vị trí của khối u:
Một vài triệu chứng có thể được gây ra bởi khối u tại một số vùng cụ thể của não. Nhìn chung mỗi vùng của não điều khiển một số chức năng cụ thể, và khối u có thể làm cản trở hoạt động bình thường của não.
Một số những triệu chứng của bệnh ung thư não được liệt kê dưới đây theo nhóm dưới các phần khác nhau của não. Nó chỉ mang tính chất định hướng, việc chuẩn đoán chính xác sẽ được thực hiện bởi các bác sĩ thông qua các cuộc xét nghiệm. Có một sơ đồ mô tả các chức năng khác nhau của mỗi vùng của não.
- U thù trán: Thay đổi về tính cách và trí tuệ. Đi không thẳng hàng hoặc suy nhược một bên người. Mất khứu giác, đôi khi khó phát âm.
- U thùy đỉnh: Khó khăn trong việc diễn đạt hoặc hiểu từ ngữ, có vấn đề trong đọc hoặc viết. Khó khăn trong việc thực hiện các di chuyển phối hợp. Liệt hoặc suy yếu nửa người.
- U thùy trầm: Mất tầm nhìn một phía. Dấu hiệu này có thể không dễ nhận ra ngay và đôi khi được phát hiện trong quá trình làm các xét nghiệm về mắt.
- U thùy thái dương: Các cơn đau có thể dẫn tới những cảm giác kỳ lạ: Một cảm giác của sự sợ hãi hoặc sợ những thứ quen thuộc, mùi lạ hoặc tối sầm mặt mũi, đôi khi khó phát âm.
- U tiểu não: Thiếu những sự phối hợp ảnh hưởng đến đi bộ và phát âm (chứng loạn cận ngôn), loạng choạng, mắt đảo không có chủ ý (chứng giật cầu mắt), nôn và vướng cổ.
- U cuống não: Mất phương hướng và không kết hợp trong các bước đi. Mặt biến dạng, cười lệch một bên hoặc xệ mí mắt. Nhìn một thành hai, một số ít bị nôn hoặc đau đầu sau khi đi bộ, khó nói và nuốt. Những triệu chứng đó có thể xuất hiện dần dần.
Tất cả những triệu chứng trên có thể gây ra bởi các nguyên nhân khác mà không phải là ung thư não. Nếu bạn thấy xuất hiện bất cứ dấu hiệu nào như đã mô tả cần khẩn trương đến gặp bác sĩ
Thay đổi tính cách: Đôi khi u não có thể dẫn đến sự thay đổi trong tính cách và hành vi. Những triệu chứng của nó có thể xuất hiện khi khối u ở trong bán cầu não. Tình trạng này có thể khiến bệnh nhân và người nhà hết sức sợ hãi. Đôi khi cần nhờ đến sự trợ giúp các chuyên gia tâm lý để xác định mức độ và tìm ra phương pháp để chữa trị.
Nhìn chung, các triệu chứng thường gặp nhất của u não có thể tóm lược như sau:
- Đau đầu, đặc biệt vào buổi sáng và đỡ đần trong ngày
- Co giật
- Buồn nôn hoặc nôn
- Yếu hoặc mất cám giác ở tay hoặc chân
- Mất thăng bằng khi đi lại
- Cử động nhãn cầu bắt thường hoặc thay đổi thị giác
- Buồn ngủ
- Thay đối tính cách hoặc trí nhở
- Thay đổi ngôn ngữ
Những triệu chứng này có thể do u não gây ra nhưng cũng có thể do các bệnh khác gây ra. Chỉ có bác sĩ mới có thể đưa ra chẩn đoán.
Khối u não nguyên phát
Khối u bắt đầu ở mô não được gọi là khối u não nguyên phát. Nó khác với khối u thứ phát là khối u xuất hiện khi ung thư lan vào não. Khối u não nguyên phát được phân loại theo loại mô nơi chúng xuất hiện. Loại u não thường gặp nhất là u thần kinh đệm xuất phát từ mô đệm. Có nhiều loại u mô đệm:
U tế bào hình sao xuất phát từ những tế bào nhò hình sao (tiếng Anh gọi là astrocyt). Các u tế bào hình sao có thể phát triển ở khắp mọi nơi trong não bộ hoặc tủy sống. Ở người lớn u tế bào hình sao thường xuất hiện ở đại não. Ở trẻ em, chúng xuất hiện ở thân não, đại não và tiểu não. u tế bào hình sao cấp độ III có thể được gọi là u tế bào hình sao không biệt hóa. U tế bào hình sao cấp độ IV thường được gọi là u nguyên bào đệm nhiều dạng.
U thần kinh đệm ở thân não xuất hiện ở phần thân não. Thân não kiểm soát nhiều chức năng sống quan trọng. Các khối u ở vùng này nói chung không thể cắt bỏ được. Hấu hết u thần kinh đệm thân não là u tế bào hình sao cấp độ cao.
U tế bào màng não thất thường phát triển trong lớp niêm mạc lót não thất, chúng còn có thể xuất hiện ở tủy sống. Mặc dù chúng có thể phát triển ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp nhất ở trẻ em và thanh niên.
U tế bào thần kinh đệm có đuôi gai xuất hiện từ những tế bào sản xuất myelin - lớp vỏ bọc mã bảo vệ dây thần kinh. Những khối u này thường xuất hiện ở đại não. Chúng phát triển chậm và thường không lan vào các mô não lân cận. u thần kinh đệm có đuôi gai thường hiếm gặp. Chúng thường gặp nhất ở lứa tuổi trung niên nhưng đã phát hiện ra các trường hợp mắc loại ung thư này ở mọi lứa tuổi. Còn có các loại u não khác không xuất phát từ mô đệm. Một số loại ung thư thường gặp nhất được trình bày dưới đây:
U nguyên tủy bào trước đây được cho là phát triển từ tế bào đệm. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây chỉ ra những khối u này phát triển từ những tế bào thần kinh nguyên thủy, những tế bào này thông thường không còn lại trong cơ thể sau khi đứa trẻ ra đời. Vì lý do này, u nguyên tế bào đôi khi còn được gọi là u tế bào thần kinh lá phổi ngoài nguyên thủy (PNET). Hầu hết u nguyên tủy bào xuất hiện ở tiếu não; tuy nhiên chúng cũng có thể xuất hiện ở các vùng não khác. Những khối u này thường xuất hiện ở trẻ em và thường gặp nhiều ở trẻ trai hơn trẻ gái.
U màng não phát triển ở màng nào. Chúng thường là những khối u lành tính. Bởi vì những khối u này phát triển chậm, nào có thể điều chỉnh theo chúng; u màng não thường phát triển khá lớn trước khi chúng gây ra triệu trứng, chúng thường xuất hiện ở những phụ nữ trong độ tuổi 30-50.
U tế bào Schwann là những khôi u lành tính xuất phát từ những tế bào sợi thần kinh Schwann là tế bào sản xuất myelin bảo vệ dây thần kinh thính giác,u dây thần kinh thính giác là một loại u tế bào Schwann. Chúng chủ yếu xuất hiện ở người lớn. Loại ung thư này gặp ở nữ giới nhiều gấp đôi nam giới.
U sọ hầu phát triển ở vùng tuyến yên gán vùng dưới đồi thị. Chúng thường là lành tính; tuy nhiên đôi khi chúng được coi là ác tính bởi vì chúng có thể chèn ép lên hoặc huy hoại vùng dưới đồi thị gây ánh hưởng tới các chức năng sống quan trọng của cơ thể. Những khối u này thường gặp nhất ở trẻ em và thanh niên.
U tế bào mầm xuất phát từ những tế hào mầm (tế bào sinh dục) nguyên thủy. Loại ung thư tế bào mầm trong não thường gặp nhất là u tế bào mầm.
U vùng tuyến tùng xuất hiện ở trong hoặc xung quanh tuyến tùng là một bộ phận nhỏ gần trung tâm não. Khối u có thể là u tế bào tuyến tùng phát triển chậm hoặc u nguyên bào tuyến tùng phát triển nhanh. Khu vực tuyến tùng là vị trí rất khó tiếp cận và những khối u này thường không thể cắt bỏ.
Khối u não thứ phát
Di căn là quá trình lan của ung thư. Ung thư xuất phát từ một bộ phận khác của cơ thề có thể lan vào não và hình thành khối u thứ phát. Những khối u này không giống như khối u não nguyên phát. Ung thư lan vào não có cùng tên với ung thư gốc (nguyên phát). Ví dụ, nếu ung thư phổi lan vào não thì u ở não là ung thư phổi di căn bởi tế bào trong khối u thứ phát là tế bào phổi bắt thường chứ không phải tế bào não bắt thường. Điều trị ung thư thứ phát tùy thuộc vào vị trí ung thư nguyên phát và phạm vi lan cũng như các yếu tố khác bao gồm độ tuổi, tình trạng sức khỏe chung của bệnh nhân và đáp ứng với điều trị trước đó.

Chuẩn đoán ung thư não

Để tìm ra nguyên nhân của các triệu chứng ung thư não, bác sĩ có thể hỏi bệnh nhân về tiền sử cá nhân và gia đình, tiến hành thăm khám toàn bộ. Bên cạnh việc kiểm tra những dấu hiệu sức khỏe chung, bác sĩ còn tiến hành khám thần kinh. Quá trình này bao gồm việc kiểm tra sự tỉnh táo, sức mạnh của cơ bắp, khả năng giữ thăng bằng, các phản xạ và đáp ứng đau. Bác sĩ còn tiến hành khám mắt để tìm dấu hiệu phù nề do khối u chèn lên dây thần kinh nối mắt với não.

Việc chẩn đoán ung thư não, tùy thuộc vào kết quả khám lâm sàng và thần kinh, bác sĩ có thể yêu cầu tiến hành một hoặc cả hai thăm dò dưới đây:
Chụp cắt lớp vi tính là các phim chụp chỉ tiết não bộ. Phim chụp này được tạo ra bằng một máy vi tính nối với một máy chụp X quang. Trong một số trường hợp cần tiêm thuốc vào tĩnh mạch trước khi chụp để làm hiển thị sự khác biệt của các mô trong não.
Chụp cộng hưởng từ hạt nhân tạo ra phim chụp não bộ bằng cách nổi một nam chấm mạnh với một máy vi tính. Chụp cộng hưởng từ hạt nhân đặc biệt hữu ích khi chân đoán u nào bởi vì nó có thể nhìn xuyên qua xương sọ nào để quan sát các mô bên dưới. Một loại thuốc đặc biệt có thể được sử dụng để làm tăng khả năng phát hiện ra khối u nào. Bác sĩ có thể yêu cầu tiến hành các xét nghiệm khác như:
  • Chụp X quang hộp sọ có thể cho thấy những thay đổi trong xương sọ do khôi u gây ra. Nó cho thấy các lắng đọng canxi có mặt trong một số loại u não.
  • Chụp xạ hình não hiển thị hình ảnh những khu vực phát triển không bình thường ở não và ghi lại trên một loại phim đặc biệt. Một lượng nhỏ chất phóng xạ được tiêm vào tĩnh mạch. Chất này được khối u hấp thụ và mức độ hấp thụ được hiển thị trên phim. Chất phóng xạ đi ra khỏi cơ thể trong vòng sáu giờ và không nguy hiểm.
  • Chụp mạch hoặc chụp động mạch, là chụp bằng tia X sau khi tiêm vào động mạch (thường là động mạch đùi) một loại thuốc đặc biệt. Thuốc đi đến mạch máu nào và có thể quan sát trên phim X quang. Có thể thấy được hình ảnh khối u và các mạch máu đi đến khối u.
  • Chụp X quang tủy sống. Một loại thuốc đặc biệt được tiêm vào dịch não tủy và bệnh nhân được đặt nghiêng để thuốc hòa vào dịch não tủy. Có thể thực hiện thăm dò này khi bác sĩ nghi ngờ có khối u ở tủy sống.
Theo nguồn: http://benhvienungbuouhungviet.vn/tim-hieu-benh-ung-thu/ung-thu-nao/chuan-doan-ung-thu-nao.aspx

Ung thư não được điều trị như thế nào? Tác dụng phụ của điều trị là gì?

Hiện nay, ung thư não được điều trị phổ biến bằng các liệu pháp như phẫu thuật, hóa trị (dùng thuốc), xạ trị (dùng các tia bức xạ năng lượng cao) hoặc điều trị bằng steroid, hoặc kết hợp nhiều phương pháp điều trị với nhau tùy thuộc và tình trạng từng bệnh nhân. Trong một số trường hợp, khối u ung thư có thể được loại bỏ hoàn toàn, tuy nhiên trong nhiều trường hợp khác, khối u không thể được gỡ bỏ. Khi đó, các bác sĩ chỉ có thể cố gắng làm chậm sự phát triển của nó để giảm triệu chứng, ảnh hưởng, ngăn chặn sự lây lan và nâng cao chất lượng cuộc sống, kéo dài sự sống cho bệnh nhân.
Bệnh nhân có thể được gửi đến các bác sĩ chuyên về các lĩnh vực khác nhau và các bác sĩ này phối hợp với nhau trong điều trị. Đội ngũ các bác sĩ chuyên khoa thường có bác sĩ phẫu thuật thần kinh, bác sĩ ung thư nội khoa, bác sĩ tia xạ ung thư, y tá, chuyên gia dinh dưỡng và người làm công tác xã hội. Bệnh nhân có thể làm việc với một bác sĩ vật lý trị liệu, chuyên gia chữa bệnh bằng lao động và bác sĩ chuyên khoa ngôn ngữ. Trước khi bắt đầu điều trị, hầu hết bệnh nhân được dùng steroid là thuốc làm giảm phù nề. Bệnh nhân còn có thể được dùng thuốc chống co giật để phòng chống hoặc kiểm soát các cơn co giật. Nếu xuất hiện não úng thủy thì bệnh nhân sẽ được làm đường nối tắt (tiếng anh gọi là shunt) để dần lưu dịch não tủy. Đường nối tắt là một ống dài và mảnh được đặt vào não thất và sau đó đi dưới da tới một bộ phận khác của cơ thể, thường là ổ bụng. Nó hoạt động như một ống dẫn: Dịch thừa được dẫn ra khỏi não và được hấp thụ trong vùng bụng. (Trong một số trường hợp, dịch thừa được dẫn vào tim.)
Phẫu thuật là phương pháp điều trị thường được sử dụng cho hầu hết các trường hợp u não. Để cắt bỏ khối u, bác sĩ phẫu thuật thần kinh phải mở hộp sọ.
Bất cứ khi nào có thể, bác sĩ phẫu thuật cố gắng cắt bỏ toàn bộ khối u. Tuy nhiên, nếu không thể cắt bỏ toàn bộ khối u mà không làm tổn thương tới các mô não quan trọng thì bác sĩ sẽ cố gắng cắt bỏ khối u càng nhiều càng tốt. Cắt bỏ một phần khối u giúp làm giảm triệu chứng do làm giảm sự chèn ép lên não và làm giảm khối lượng khối u được điều trị bằng tia phóng xạ hoặc hóa chất. Một số khối u không thể cắt bỏ. Trong những trường hợp như vậy, bác sĩ chỉ có thể tiến hành sinh thiết. Một mảnh khối u nhỏ được cất ra để bác sĩ giải phẫu bệnh có thể quan sát dưới kính hiển vi nhằm xác định loại tế bào trong khối u. Việc này giúp bác sĩ quyết định nên sử dụng phương pháp điều trị nào. Đôi khi, sinh thiết được thực hiện bằng kim. Bác sì còn sử đụng một dụng cụ dạng khung đội đầu đặc biệt và chụp cắt lớp vi tính hoặc chụp cộng hưởng từ hạt nhân để xác định vị trí chính xác của khối u. Bác sĩ phẫu thuật mở một lỗ nhỏ ở hộp sọ và sau đó hưởng mũi kim vào khối u (định hưởng không gian).
Dieu tri ung thu nao
Tia xạ trị liệu sử dụng các tia có năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư và ngăn không cho chúng phát triển. Nó thường được sử dụng để tiêu diệt phần mô ung thư không cắt bỏ được khi phẫu thuật hoặc là để tiêu diệt tế bào ung thư còn sót lại sau khi phẫu thuật. Xạ trị còn được sử dụng khi không thể tiến hành phẫu thuật. Xạ trị có thể thực hiện theo hai cách, chiếu xạ ngoài xuất phát từ một máy lớn. Nói chung, chiếu xạ ngoài được tiến hành 5 ngày mỗi tuần trong vài tuần. Kế hoạch điều trị phụ thuộc vào loại và kích thước của khối u và độ tuổi của bệnh nhân, tổng liều chiếu xạ đạt được sau một thởi gian kéo dài giúp bảo vệ các mô lành trong khu vực có khối u. Phóng xạ có thể xuất phát từ vật liệu phát xạ đặt trực tiếp trong khối u. Tùy thuộc vào chất liệu phát xạ được sử dụng, mảnh cây có thể hại lại trong não trong một thời gian ngắn hoặc vĩnh viễn. Chất phát xạ mất dần hoạt tính phóng xạ mỗi ngày. Bệnh nhân nằm viện trong một thời gian ngắn khi hoạt tính phóng xạ còn mạnh nhất. Chiếu xạ ngoài chỉ cồ thể chiếu trực tiếp vào khối 11 và các mô gần khối u, hiếm khi chiếu xạ toàn bộ não bộ. (Đôi khi phóng xạ được chiếu trực tiếp vào tủy sống). Khi toàn bộ não được điều trị, bệnh nhân thường được nhận thêm một liều phóng xạ vào khu vực khối u. Lượng phóng xạ tăng cưởng này có thể xuất phát từ chiếu xạ ngoài hoặc chiếu xạ trong. Phẫu thuật bằng tia nhờ định hưởng không gian là một phương pháp điều trị u não. Phương pháp điều trị này được thực hiện một lần; sau khi định vị được chính xác khối u thì tia có năng lượng cao được chiếu thẳng vào khối u từ nhiều góc. Bằng cách này, một liều tia cao có thể đến phá hủy khối u nhưng lại không phá hủy các mô não khác. Phương pháp này đôi khi được gọi là dao gamma.
Hóa trị liệu là phương pháp sử dụng thuốc để diệt tế bào ung thư não. Bác sĩ có thể chỉ sử dụng một loại thuốc hoặc phối hợp nhiều loại thuốc, thuốc thường được uống hoặc tiêm vào tĩnh mạch hoặc cơ bắp. Hóa trị liệu trong tủy sống là phương pháp điều trị bằng tiêm thuốc vào dịch nào tụy. Hóa trị liệu thường được tiến hành theo đợt: một đợt điều trị tiếp đến là thời gian nghỉ hồi phục và tiếp tục như vậy. Bệnh nhân thường không phải năm viện trong thời gian điều trị. Bệnh nhân có thể được tiêm truyền thuốc ở phỏng khám ngoại trú của bệnh viện. Tuy nhiên, tùy thuộc vào loại thuốc được sử dụng, đường đưa vào cơ thể và tình trạng sức khỏe chung mà bệnh nhân có thể cần phải nằm viện trong một thời gian ngắn.
Thử nghiệm lâm sàng Các nhà nghiên cứu đang tìm kiếm các phương pháp hiệu quả hơn và có ít tác dụng phụ hơn để điều trị u não. Khi nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cho thấy một phương pháp điều trị mới là có triển vọng, bác sĩ sẽ sử dụng phương pháp mới để điều trị cho bệnh nhân ung thư trong các thử nghiệm lâm sàng. Những thử nghiệm lâm sàng này được thực hiện để trả lởi các câu hỏi khoa học và để tìm ra phương pháp điều trị mới an toàn và hiệu quả. Bệnh nhân tham gia vào thử nghiệm lâm sàng đã góp một phần quan trọng cho sự phát triển của y học và là những người đầu tiên được hưởng lợi từ những phương pháp điều trị mới.
Nhiều thử nghiệm lâm sàng các phương pháp điều trị u não đang được tiến hành. Bác sĩ đang nghiên cứu các loại và các kế hoạch xạ trị mới, các loại thuốc điều trị ung thư mới, các phác đồ phối hợp thuốc mới và sự kết hợp giữa hóa trị liệu và xạ trị liệu. Các nhà khoa học đang cố gắng để làm tăng tính hiệu quả của xạ trị bằng cách chiếu xạ 2 lần một ngày thay cho một lần. Hơn nữa họ còn đang nghiên cứu các loại thuốc được gọi là chất mẫn cảm phóng xạ. Những loại thuốc này làm cho tế bào ung thư nhạy cảm hơn với phóng xạ. Một phương pháp khác đang được nghiên cứu là phương pháp thấu nhiệt, trong đó khối u được đốt nóng lên để tăng hiệu quả của tia phóng xạ.
Nhiều loại thuốc không thể tiếp cận tế bào nào do hàng rào máu-não, một mạng lưới mạch máu và tế bào ngăn máu vào não. Các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm kiểm các loại thuốc mới có thể đi qua hàng rào máu-não. Các nghiên cứu đang được thực hiện sử dụng các kỹ thuật khác nhau để tạm thời phá bỏ hàng rào này để thuốc có thể tiếp cận được khối u. Trong các nghiên cứu khác, các nhà khoa học đang khám phá các cách mới để đưa thuốc vào cụ thể. Thuốc có thể được tiêm vào động mạch dẫn đến não hoặc có thể tiêm trực tiếp vào não thất. Bác sĩ cũng đang nghiên cứu hiệu quả của việc đặt những miếng xốp nhỏ chứa thuốc diệt ung thư trực tiếp vào khối u. Miếng xốp dần dần tan đi. Các nhà nghiên cứu cũng đang thử nghiệm việc điều trị bằng thuốc chống ung thư với liều rất cao. Do liều thuốc rất cao có thể gây tổn thương tủy xung, bác sĩ kết hợp phương pháp điều trị này với phương pháp ghép tủy xương để thay thế cho tủy xương đã bị hủy hoại. Liệu pháp sinh học là một phương pháp điều trị ung thư não mới hiện đang được nghiên cứu. Phương pháp điều trị này nhầm tăng cường hệ thống miễn dịch của cơ thể để chống lại bệnh tật.
Bất kì liệu pháp điều trị ung thư nào nào đều để lại những tác dụng phụ không mong muốn ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh. Trong liệu trình điều trị, các bác sĩ luôn cố gắng để giảm thiểu tối đa các tác dụng phụ đó, tuy nhiên mức độ tác động của chúng vẫn khó tránh khỏi. 
Tác dụng phụ của điều trị
Điều trị ung thư thường gây ra các tác dụng phụ. Những tác dụng phụ này xuất hiện bởi vì điều trị cũng tiêu diệt và hủy hoại các tế bào lành. Tác dụng phụ của điều trị ung thư khác nhau. Chúng phụ thuộc vào phương pháp điều trị và vùng được điều trị. Hơn nữa, mỏi bệnh nhân lại có những đáp ứng khác nhau. Bác sĩ cố gắng lập kế hoạch điều trị để giảm tác dụng phụ xuống mức thấp nhất. Họ còn theo dõi bệnh nhân rất kỹ lưỡng để giúp xử lý tất cả những vấn đề có thể xảy ra. Phẫu thuật mổ não là đại phẫu thuật. Phẫu thuật có thể hủy hoại mô não lành và có thể gây hiện tượng phù nề.
Mệt mỏi, các rối loạn thăng bằng, thay đổi tính cách, khó nói và khó tư duy có thể là những tác dụng phụ của điều trị. Bệnh nhân cũng có thể bị co giật. Thực tế, một thời gian ngắn sau khi phẫu thuật triệu chứng có thể trầm trọng hơn trước đó. Hầu hết tác dụng phụ của phẫu thuật có thể giảm nhẹ hoặc biến mất theo thời gian. Hầu hết các tác dụng phụ của xạ trị sớm mất đi sau khi kết thúc điều trị. Tuy nhiên, một số tác dụng phụ có thể xảy ra hoặc kéo dài sau khi điều trị kết thúc. Một số bệnh nhân cảm thấy buồn nôn trong vài giờ đồng hồ sau khi điều trị. Bệnh nhân được chiếu xạ thấy mệt mỏi khi tiếp tục điều trị. Nghỉ ngơi là rất quan trọng, nhưng bác sĩ thường khuyên bệnh nhân cố gắng hoạt động một cách hợp lý.
Chiếu xạ ở vùng sọ làm cho hầu hết bệnh nhân bị rụng tóc. Khi tóc mọc trở lại thì tóc mới đôi khi mềm hơn và màu có thể hơi khác. Trong một số trường hợp, bệnh nhân bị rụng tóc vĩnh viễn. Phản ứng của da trong vùng điều trị là hiện tượng thường gặp. Lớp da đầu và tai có thể bị đỏ lên, ngứa hoặc đen đi; những vùng này có thể trông như bị cháy nắng. Nên để vùng chiếu xạ tiếp xúc với không khí càng nhiều càng tốt nhưng nên tránh tia nắng mặt trời. Bệnh nhân không nên đội các loại mũ nón có thể kích thích da đầu. Chăm sóc da tốt là rất quan trọng trong thời gian này. Bác sĩ có thể gợi ý một số loại xà phòng hoặc thuốc mới và bệnh nhân không nên sử dụng bất kỳ loại dầu thơm hoặc kem dưỡng da nào khi không có lời khuyên của bác sĩ. Đôi khi tế bào não đã bị tia phóng xạ tiêu diệt tạo nên một khối trong não. Khối tế bào chết này có thể trông giống như khối u và có thể gây các triệu trứng tương tự như đau dầu, mất trí nhớ hoặc co giật. Bác sĩ có thể gợi ý phẫu thuật hoặc dùng steroid để làm giảm triệu chứng.
Trong khoảng thời gian từ 4-8 tuần sau khi chiếu xạ bệnh nhân có thể bị buồn ngủ hoặc mất cảm giác ngon miệng. Những triệu chứng này có thể kéo dài trong vài tuần nhưng chúng sẽ tự biến mất. Tuy nhiên, bệnh nhân nên thông báo cho bác sĩ khi có triệu chứng. Những trẻ em được điều trị khối u não bằng tia phóng xạ có thể gặp khó khăn trong quá trình học tập hoặc bị mất một phần thị lực. Nếu tuyến yên bị ảnh hưởng trẻ em có thể không lớn hoặc không phát triển bình thường được. Tác dụng phụ của hóa trị liệu phụ thuộc vào loại thuốc điều trị. Nói chung, thuốc điều trị ung thư ảnh hưởng tới tế bào phân chia nhanh, như tế bào máu chống lại nhiễm khuẩn, tế bào lót niêm mạc ống tiêu hóa và tế bào ứ nang tóc. Kết quả là khà năng chống nhiễm khuẩn của bệnh nhân giảm, mất cảm giác ngon miệng, buồn nôn, nôn hoặc đau giảm, mất cảm giác ngon miệng, buồn nôn, nôn hoặc đau miệng. Bệnh nhân cùng có thể có ít năng lượng hơn và có thể bị rụng tóc.
Những tác dụng phụ này thường dần biến mất sau khi kết thúc điều trị. Một số thuốc điều trị ung thư có thể gây vô sinh. Phụ nữ uống một số loại thuốc điều trị ung thư nhất định có thể có triệu chứng mãn kinh (bốc hòa hoặc khô âm đạo; kỳ kinh nguyệt có thể bất thường hoặc dừng lại). Một số loại thuốc được sử dụng điều trị ung thư ở trẻ em có thể ảnh hưởng tới khá năng sinh con sau này. Một số loại thuốc điều trị ung thư não có thể gây tổn thương thận. Bệnh nhân thường được truyền một lượng dịch lớn khi uống những loại thuốc này. Bệnh nhân cũng có thể có cảm giác kim chấm ở ngón tay, ù tai hoặc nặng tai. Nhưng vấn đề này có thể không mất đi khi kết thúc điều trị. Điều trị bằng steroid để giảm phù nề ở não có thể làm cho bệnh nhân ăn nhiều và tăng cân. Phù mặt và chân là những hiện tượng thường gặp. Steroid có thể gây cảm giác bồn chồn, tính khí không ổn định, ợ nóng và trứng cá. Tuy nhiên, bệnh nhân không nên ngừng sử dụng steroid hay thay đổi liều lượng mà không tư vấn bác sĩ. Phải dừng uống steroid một cách từ từ để cơ the điều chỉnh cho phù hợp với sự thay đối.
Mất cảm giác ngon miệng có thể là vấn đề đối với bệnh nhân trong quá trình điều trị. Bệnh nhân có thể không cảm thấy đói khi một mỏi hoặc khó chịu. Một số tác dụng phụ thường gặp khi điều trị ung thư như buồn nôn, nôn có thể làm cho việc ăn uống khó khăn hơn. Ăn tốt có nghĩa là lấy đủ lượng calo và protein để không bị giảm cân, lấy lại sức lực và tái tạo lại các mô lành. Nhiều bệnh nhân thấy ăn nhiều bữa ăn nhỏ và bữa ăn nhẹ trong ngày có hiệu quả hơn là ăn ba bữa chính. Bệnh nhân được điều trị ung thư não có thể có hiện tượng đông máu và viêm tĩnh mạch, thường xảy ra nhất ở chân. Hiện tượng này được gọi là viêm tác tĩnh mạch. Những bệnh nhân phát hiện bị phù ở chân, đau chân hoặc tấy đỏ ở chân nên thông báo cho bác sĩ ngay.
Theo dõi định kỳ sau khi điều trị là rất quan trọng đối với bệnh nhân u não. Bác sĩ sẽ kiểm tra kỹ lưỡng để chắc chắn rằng khối u chưa xuất hiện trở lại. Thăm khám định kỳ thường bao gồm khám sức khỏe toàn thân và khám thần kinh. Thỉnh thoảng bệnh nhân phải chụp cắt lớp vi tính hoặc cộng hưởng từ hạt nhân.
Bệnh nhân được chiếu xạ vào những vùng rộng ở não hoặc được điều trị bằng một số loại thuốc chống ung thư nhất định có nguy cơ bị bệnh ung thư tế bào máu hoặc khối u thứ hai cao hơn. Hơn nữa xạ trị ảnh hưởng tới nhãn cầu có thể dẫn đến bệnh đục thể thủy tinh. Bệnh nhân nên làm theo lời khuyên của bác sĩ về chăm sóc sức khỏe và khám kiểm tra. Nếu có vấn đề sức khỏe bất thường xảy ra thì nên thông báo cho bác sĩ ngay.

Ung thư não

Ung thư não là khái niệm chung để chỉ các khối u ác tính ở não chứa các tế bào ung thư. Chúng ảnh hưởng đến các chức năng sống và gây nguy hiếm cho tính mạng. Bệnh ung thư não là một trong những thể ung thư nghiêm trọng nhất bởi lẽ nó liên quan đến bộ phận giữ vai trò kiểm soát và điều khiến mọi chức năng sống trong cơ thể. Chúng phát triển, xâm lấn, tiêu diệt các tế bào lành tính khác xung quanh nó và nặng hơn có thể di căn đi xa… làm ảnh hưởng đến các chức năng sống của cơ thể và gây nguy hiểm cho tinh mạng.

Các khối u này thường lớn lên nhanh và xâm lấn vào mô lân cận. Cũng giống như một loại cây, các khối u này có thể “mọc rễ” vào mô lành của não. Nếu khối u ác tính ở não là rán và không có rễ, đó là khối u có vỏ bọc. Khi có một khối u ở vùng điều hành chức năng sống của não và ánh hưởng đến các chức năng này thì chúng cũng có thể được coi là khối u ác tính (mặc dù chúng không chứa tế bào ung thư).
Hiện nay, tỷ lệ bệnh nhân mắc u não ngày càng gia tăng, nó giết chết hàng trăm nghìn người mỗi năm. Với những bệnh nhân ung thư não, tỷ lệ sống sót là rất thấp, không những thế, người sống sót được cũng phải gánh chịu nhiều hệ quả làm suy giảm chất lượng cuộc sống.
Người ta phân chia ung thư não ra làm 2 loại:
- Ung thư não thứ cấp (tức là ung thư từ một bộ phận khác của cơ thể đã di căn đến não). Đây là loại ung thư não phổ biến nhất. Các loại ung thư dễ di căn đến não nhất đó là ung thư phổiung thư vú. Ngoài ra các loại ung thư như ung thư gan, ung thư hạch, ung thư bàng quang… cũng dễ di căn lên não.
- Ung thư não nguyên phát (Gliobalastoma) là loại ung thư phổ biến thứ hai ở não. Gliobalastoma là căn bệnh ung thư não nguy hiểm nhất từ trước tới nay mà các nhà khoa học đã ghi nhận được. Glioblastoma tấn công vào bộ não vốn đang khỏe mạnh của con người và tạo ra các khối u không thể cắt bỏ khiến cho bệnh nhân có thể tử vong trong vòng 2 năm kể từ khi mắc bệnh.