Thứ Ba, 10 tháng 3, 2015

Chẩn đoán ung thư vú sớm có thể chữa khỏi

Thăm khám sức khỏe định kỳ có thể nhận biết sớm bệnh ung thư vú. Phải lưu ý một số triệu chứng báo động khi bệnh mới chớm để ngăn cản bệnh tiến triển nặng hơn. 
Việc định bệnh thường bắt đầu bằng việc người bệnh cho biết vài triệu chứng tổng quát hoặc triệu chứng chức năng nào đó, rồi thầy thuốc mới thăm hỏi kỹ lưỡng. Có khi vài triệu chứng như: mệt mỏi, đau tức ngực... cũng giúp trả lời bạn có bị ung thư vú hay không. Đừng hoảng hốt, các xáo trộn này không hẳn là đặc hiệu của ung thư mà có thể là các bệnh khác. Thăm hỏi và khám kỹ hơn, bác sĩ có thể tìm ra một khối bướu hiển nhiên, như một cục u ở vú, hạch cổ lớn ra…khi ấy bạn hãy nghĩ đến ung thư vú. 
Phương pháp chẩn đoán ung thư vú 
1 .Kiểm tra hình ảnh siêu âm: kiểm tra hình ảnh siêu âm có thể hiểu rõ hình thái mô vú, vùng biên, có khối u không , kích thước lớn nhỏ , hình dạng, tính chất của khối u (u nang vú hoặc u thể đặc ), v.v…, cung cấp cơ sở đáng tin cậy để phân biệt u lành tính . Nếu tự kiểm tra phát hiện khối u ở vú, cần tiếp nhận hạng mục kiểm tra này . 

2. Kiểm tra hình ảnh nhiệt: ứng dụng hình ảnh hiển thị trên bề mặt phân bố nhiệt độ do sự phát triển nhanh chóng của các tế bào ung thư, các mạch máu tăng trưởng ,nhiệt độ bề mặt khối u tăng lên, chính là tương ứng với nhiệt độ bề mặt cao hơn với các mô xung quanh, sự khác biệt này có thể được sử dụng để chẩn đoán. 
3. Chụp CT kiểm tra: có thể được sử dụng để xác định vị trí tổn thương ung thư vú trước khi sinh thiết, chẩn đoán ung thư vú theo giai đoạn trước khi phẫu thuật, kiểm tra các khu vực sau tuyến vú, vùng nách và hạch bên trong vú có tăng trưởng không, sẽ giúp ích cho việc lên kế hoạch điều trị. Còn đối với bệnh nhân có triệu chứng đau vú nhưng lại chưa sờ thấy có khối u vẫn có thể tiến hành chụp CT như nhau để kiểm tra và chẩn đoán thêm. 
4 .Kiểm tra chất chỉ điểm khối u: trong quá trình chuyển biến ung thư,do các tế bào khối u sản sinh, tiết ra, trực tiếp phóng thích các thành phần mô tế bào, và kháng nguyên, men, kích thích tố hoặc các chất chuyển hóa có trong các tế bào khối u hoặc trong chất dịch, các chất này được gọi là chất chỉ điểm khối u . Phương pháp kiểm tra gồm : kháng nguyên carcinoembryonic (CEA), ferritin, kháng thể đơn dòng , v.v... 
5 . Sinh thiết: ung thư vú phải được chẩn đoán rõ ràng mới có thể bắt đầu điều trị. Trước mắt mặc dù có rất nhiều phương pháp kiểm tra, nhưng cho đến nay chỉ có các kết quả bệnh lý của sinh thiết mới được xem như cơ sở để chẩn đoán rõ ràng . Trong đó sinh thiết bao gồm: kim sinh thiết, rạch sinh thiết và phẩu thuật cắt bỏ sinh thiết, v.v… Nếu vú của bạn xuất hiện bất kỳ triệu chứng bất thường cũng nên nhanh chóng đến bệnh viện chuyên khoa để tiến hành các kiểm tra vú chuyên nghiệp nêu trên . 
Việc chẩn đoán sớm được các dấu hiệu ung thư vú sẽ giúp khả năng điều trị khỏi cao hơn, giảm thiểu chi phí và nguy cơ tử vong. Tuy nhiên, với tâm lý chủ quan của hầu hết người bệnh đã khiến bệnh phát triển đến giai đoạn nặng mới phát hiện, nên khả năng điều trị khỏi là hầu như không còn. Điều này ai cũng biết, nhưng không phải ai cũng thật sự quan tâm đến những dấu hiệu trên cơ thể của mình. Nhất là với các bệnh nan y, thì người bệnh càng phải thận trọng hơn, tốt nhất nên thực hiện các cuộc khám sức khỏe định kỳ, thực hiện lối sống lành mạnh, xây dựng thói quen theo dõi những thay đổi nhỏ nhất trong cơ thể.

Ung thư vú có thể phòng tránh

Ung thư vú tuy là một căn bệnh vô cùng nguy hiểm, nhưng không có nghĩa là không có cách phòng tránh. Những người có nguy cơ mắc ung thư vú vẫn có thể phòng ngừa được khả năng mắc bệnh bằng cách kiểm soát các yếu tố gây bệnh. Dưới đây là một số cách phòng chống ung thư vú. 
Một số cách giúp phòng ngừa ung thư vú :
1. Kiểm soát ung thư vú bằng thuốc
Trên thực tế, việc dùng thuốc quá nhiều sẽ ảnh hướng đến tình trạng sức khỏe của bạn, nhất là các loại thuốc kháng sinh cao có nhiều tác dụng phụ. Tuy nhiên, không thể phủ nhận vai trò của thuốc trong việc phòng ngừa và điều trị bệnh, chúng ta vẫn có thể hạn chế sử dụng các loại thuốc mang lại nhiều tác dụng không mong muốn, thay vào đó nên sử dụng các sản phẩm có thể sử dụng lâu dài, lành tính…để kiểm soát các nguy cơ của ung thư vú. 

2. Tuyệt đối không nên hút thuốc lá
Thuốc lá là thứ độc hại nhất đối với sức khỏe con người, ai cũng biết tác hại của thuốc là nhưng không phải ai cũng tránh xa được “sát nhân lạnh lùng” này. Theo ước tính, thuốc là nguyên nhân thứ phát dẫn đến bệnh ung thư, nhất là ung thư vú, hơn 40.000 chất độc có trong thuốc lá sẽ đồng bộ hủy hoại dần dần từng tế bào của cơ thể, tạo điều kiện cho tác nhân ung thư “hoành hành”. Vì vậy không hút thuốc lá được xem như giải pháp tối ưu nhất trong phòng ngừa ung thư vú. 
3. Giảm hoặc tránh uống rượu
Tương tự như thuốc lá, rượu gây ra một số các tác hại không có lợi cho sức khỏe của con người. Nhất là với phụ nữ, trong rượu có rất nhiều cồn – một chất độc hại đối với cơ thể. Theo ước tính, phụ nữ uống rượu có thể làm tăng nguy cơ ung thư vú lên đến 20 – 25%. 
4. Kiểm soát lượng đường huyết
Các loại chất béo trong chế độ ăn uống của bạn có thể ảnh hưởng đến nguy cơ ung thư vú. Ngoài các chất béo có trong thịt, dầu, mỡ…thì một số các thực phẩm khác cũng có chứa các chất gây ưng thư, nhất là các chất béo bão hòa và chất béo trans (Chất béo trans là các chất béo không bão hòa có đồng phân trans). Chất béo dạng trans fat thường có trong :Margarin, mỡ pha với bánh cho xốp giòn, thực phẩm chế biến như bánh snack (bánh quy giòn, khoai tây chiên) bánh nướng (bánh xốp nướng, bánh quy dẹt nhỏ) với hydrogenated oil, những món đồ rán, chiên, đặc biệt các loại dầu chiên đi chiên lại hoặc trong việc trộn xa lát, mỳ gói...Đều có nguy cơ tiểm ẩn tác nhân gây ung thư. 
Vì vậy, nên giảm thiểu sử dụng các loại thực phẩm này, bên cạnh đó nhưng thực phẩm như : Bột mì trắng, gạo trắng, khoai tây trắng, đường và các sản phẩm có chứa đường cũng gây ra thay đổi hoóc môn thúc đẩy tăng trưởng của tế bào trong mô vú. Chúng ta có thể thay thế những những sản phẩm này bằng các loại như ngũ cốc và hạt / cây họ đậu vì chúng có nhiều chất xơ và chất lignan là một chất đặc biệt có thể giúp phụ nữ phòng ngừa ung thư vú.
5. Kiểm soát chất béo
Như đã nói ở trên, các chất béo không những làm tăng lượng đường huyết, mỡ trong máu mà còn gây ra dư thừa mỡ, tăng khả năng béo phì, ức chế các cơ quan trong cơ thể. Vì vậy, nên tiêu hóa các chất béo omega-3, đặc biệt là từ dầu cá (cá hồi, cá ngừ, cá thu, cá mòi, cá hồi hồ và cá trích). Tiêu thụ các loại dầu không bão hòa đơn (cải dầu, dầu ôliu, hạt / hạt, bơ), là những thực phẩm có đặc tính chống ung thư. 
6. Ăn nhiều trái cây và rau quả 
Trái cây và rau quả là những thực phẩm hàng đầu trong phòng ngừa ung thư. Đặc biệt là các loại rau họ cải (bông cải xanh, bắp cải , cải bruxen, súp lơ), rau lá xanh đậm (collard, cải xoăn, rau bina), cà rốt và cà chua. Các loại trái cây bao gồm cam quýt, dâu và anh đào. 
Lưu ý cách tốt nhất là ăn các loại rau họ cải sống hoặc luộc, vì các chất phytochemical giúp bảo vệ chống lại bệnh ung thư vú có trong rau cải bị mất dần đi khi đun nóng ở nhiệt độ cao.
7. Thêm các chế phẩm từ đậu nành
Thêm các chế phẩm từ đậu nành trong chế độ dinh dưỡng hàng ngày sẽ giúp bạn ngừa được bệnh ung thư vú, giảm cholesterol xấu và bổ sung đầy đủ dưỡng chất cho cơ thể: như đậu phụ, đậu nành nén, đậu edamame, đậu nành rang, sữa đậu nành và tương Miso. Sự liên hệ giữa việc giảm nguy cơ ung thư vú với việc ăn thực phẩm đậu nành là do chất isoflavones đậu nành có hiệu ứng estrogenic làm thay đổi các tế bào vú, dẫn đến việc giảm các các chất sinh ung thư carcinogens.
8. Cẩn thận khi bổ sung estrogen thay thế
Ðiều trị hormon thay thế là con dao hai lưỡi, có những ưu điểm và nhược điểm, nếu tuân thủ đúng thì sẽ cho kết quả tốt và ngược lại. Việc chủ quan và lơ là trong qúa trình điều trị có thể dẫn đến những hậu quả nguy hiểm: làm tăng nguy cơ quá sản nội mạc tử cung, ung thư nội mạc tử cung, các bệnh vú (như đau, cương vú, ung thư), tăng huyết áp, huyết khối. Cũng tránh các hợp chất giống như estrogen tồn tại trong môi trường, như thuốc trừ sâu và hoá chất công nghiệp.
9. Duy trì một cuộc sống tích cực lạc quan
Tinh thần thoải mái và thái độ sông lạc quan sẽ mang lại cho bạn một tâm thế tốt nhất, giúp bạn có niềm vui và tận hưởng cuộc sống một cách trọn vẹn. Vì vậy, luôn giữ tinh thần thoải mái, xây dựng những mối quan hệ tốt đẹp và lành mạnh tránh stress, căng thẳng, mất ngủ cũng là cách tốt nhất để phòng ngừa và đẩy lùi ung thư vú. 
10. Duy trì trọng lượng cơ thể khỏe mạnh 
Duy trì trọng lượng cơ thể ở mức trùng bình, không thừa cân cũng không thiếu cân giúp cân bằng cơ thể, ổn định sức khỏe. Một khi bạn thừa cân hoặc thiếu cân cũng đều tiềm ẩn các yếu tố nguy cơ gây ung thư vú. 
11. Tập thể dục thường xuyên
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy thường xuyên tập thể dục giúp chống lại ung thư vú. Dành 30 phút hoặc nhiều hơn mỗi ngày cho các bài tập aerobic (hoặc đi bộ nhanh) là chìa khóa thành công trong việc phòng chống ung thư vú.
Trên đây là một số phương pháp phòng chống ung thư vú, muốn mang lại hiệu quả tốt nhất chúng ta phải thực hiện chúng một cách hiệp đồng, hiệu quả và khoa học. Ung thư vú có thể cướp đi sinh mạng của chúng ta, nhưng không có nghĩa chúng ta đầu hàng và thờ ơ. Bên cạnh đó, ngay từ khi phát hiện sớm một dấu hiệu như: Đau vú, xuất hiện u vú, mệt mỏi, chóng mặt, nổi hạch…cần xem xét ngay đến khả năng ung thư vú. Nên khám sức khỏe định kỳ để dự phòng được bệnh.

Phương pháp điều trị ung thư vú

Điều trị ung thư vú

Tùy theo từng giai đoạn của bệnh, triệu chứng lâm sàng, tuổi của bệnh nhân mà lựa chọn các phương pháp điều trị là phẫu thuật cắt bỏ khối u, xạ trị, hóa trị, liệu pháp hormon. Các phương pháp có thể được sử dụng độc lập hay phối hợp với nhau tùy theo từng giai đoạn điều trị.

1. Phẫu thuật: Cắt bỏ khối u, cắt bỏ một hoặc hai bên vú. Có thể áp dụng phương pháp tạo hình sau phẫu thuật.
2. Xạ trị: Sử dụng tia X năng lượng cao giết các tế bào ung thư vú và làm co nhỏ khối u.
3. Hóa trị: Dùng thuốc để phá hủy tế bào ung thư. .
4. Liệu pháp hormon: Các thuốc làm giảm ảnh hưởng của estrogen trong cơ thể
5. Liệu pháp sinh học
Đôi khi được gọi là thay đổi đáp ứng sinh học hoặc liệu pháp miễn dịch, cách điều trị này kích thích hệ miễn dịch của cơ thể chống lại ung thư vú.

Cách giác trước các nguyên nhân gây ung thư âm hộ

- Những khối u biểu mô bên trong - VIN (viết tắt của cụm từ tiếng Anh vulval intra neoplasia), những khối u biểu mô này biến chuyển thành yếu tố tiền ung thư trong da âm hộ. Khối u này ban đầu có thể chưa phải là ung thư nhưng nó có thể tiến triển thành ung thư.
Tuy nhiên, nếu như ai đó bị các khối u này thì cũng đừng quá lo lắng, vì đa số các trường hợp chỉ là lành tính. Các triệu chứng thường gặp nhất là ngứa. Vùng bị khối u biểu mô có thể sưng lên với vùng da dày và đỏ, với những vết đốm có màu trắng nhợt hơn hoặc sẫm hơn.

- Vi-rút gây u nhú HPV được nghĩ như một nguyên nhân gây bệnh, khoảng từ 3 đến 5/10 trường hợp ung thư âm hộ mà nguyên nhận là do HPV. Vi-rút này lây truyền qua các hoạt động tình dục. Có nhiều loại vi-rút HPV và một vài loài có nguy cơ gây ung thư cao.
- Nghiện thuốc. Nghiên cứu cho thấy nghiện thuốc có thể tăng nguy cơ phát triển cả ung thư biểu mô và ung thư âm hộ.
- Bệnh da và viêm mãn tính, một số bệnh da có nguy cơ phát triển thành ung thư như bệnh xơ hóa cứng da có những mảng tổn thương cứng tròn, bệnh Lichen hoặc bệnh xơ hóa xương mãn tính tuổi già - bệnh Paget.
- Bệnh thường gặp ở những phụ nữ trước đây có kinh muộn (15-18 tuổi) và mãn kinh sớm (40 tuổi). Bệnh thường do vi-rút Human Papilloma (HPV) týp 16 và 18 gây ra, có liên quan tới ung thư cổ tử cung và âm đạo.
Tổn thương ban đầu chỉ là một vết nhỏ, xuất hiện ở vùng cửa mình, hay gặp nhất là ở môi lớn, có khi chỉ một bên nhưng thường ở cả hai bên (đối xứng). Ban đầu, hơn 50% ca ung thư âm hộ có triệu chứng của tiền ung thư: viêm teo âm hộ, bạch biến, hạ cam, u hạt, áp-xe tuyến bartholin. Đáng lo ngại là những tổn thương ác tính tiềm tàng như u nhú, hồng sản...
Ung thư phát triển tại âm hộ là chính (nguyên phát). Hãn hữu cũng có ung thư âm hộ do di căn từ thận, tử cung, buồng trứng (thứ phát). Bệnh lan tại chỗ ngày càng rộng, tới xung quanh lỗ niệu, 1/3 dưới âm đạo, sau đó lấn sang trước hố ngồi trực tràng và rãnh sinh dục, cuối cùng có thể lan tới trực tràng và hậu môn. Di căn xa ít gặp nhưng cũng có thể vào phổi, gan, xương. Do đó, Xquang phổi và siêu âm các phủ tạng cần được làm sớm để phát hiện di căn.

Nhận biết ung thư âm hộ

Tất cả phụ nữ đều có nguy cơ mắc căn bệnh ung thư âm hộ vô cùng nguy hiểm này, tuy nhiên rất ít người nhận biết được các dấu hiệu ban đầu của căn bệnh.
Ung thư âm hộ là ung thư bộ phận sinh dục ngoài hệ thống sinh sản của phụ nữ. Bệnh không phổ biến, chiếm khoảng 3-4% trong số những bệnh ung thư phụ khoa và đứng thứ tư trong số những ung thư đường sinh dục, sau ung thư nội mạc tử cung, cổ tử cung, buồng trứng.
Trong một số trường hợp, ung thư âm hộ có thể bắt đầu vào âm vật hoặc trong các tuyến ở hai bên âm đạo. Nếu phát hiện sớm, điều trị ung thư âm hộ có khả năng thành công cao. Chính vì vậy, nhận biết được các dấu hiệu của bệnh là việc vô cùng quan trọng.



Lứa tuổi trung bình mắc bệnh ung thư âm hộ trong khoảng 63 tuổi, 75% bệnh nhân trên 50 tuổi và 15% gặp ở phụ nữ dưới 40 tuổi.
Những người có nguy cơ cao bị ung thư âm hộ
Những người nhiễm virus HPV gây u nhú ở người: Đây được coi là nguyên nhân của nhiều bệnh ung thư, trong đó có ung thư âm đạo và ung thư âm hộ. Nếu bạn đã từng nhiễm virus HPV hãy hình thành thói quen làm xét nghiệm thường xuyên. Đồng thời, chữa trị theo đúng hướng dẫn và liệu trình của bác sỹ, có thể chích ngừa vacxin giúp ngăn ngừa các bệnh ung thư liên quan đến virus HPV.
Nguy cơ cao mắc ung thư âm hộ cũng dễ xảy ra với những người hút thuốc lá, bệnh nhân nhiễm HIV có hệ miễn dịch suy yếu, những người đã bị ung thư cổ tử cung hoặc tiền ung thư cổ tử cung…
Những người sử dụng một số chất khử mùi, xà phòng thơm, chất xịt vệ sinh có chứa những chất hóa học gây ung thư; sử dụng nước để vệ sinh không sạch tạo nên tác nhân kích thích gây ngứa gãi; những người âm hộ dễ bị ẩm ướt như mắc bệnh són đái, mặc quần áo lót có chất nhuộm hay bằng vải tổng hợp gây kích thích, mặc quần áo lót bó sát gây nên hạn chế thông thoáng khí cũng dễ mắc bệnh này.
Đối với những người có dùng thuốc có steroid nhằm giảm và biến chất béo trong cơ thể thành cơ bắp, tăng độ dẻo dai khi tập luyện cũng có thể tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư âm hộ. Steroid có rất nhiều tác dụng phụ nguy hại cho sức khỏe. Hãy cảnh giác và tham khảo ý kiến bác sỹ trước khi sử dụng loại thuốc này.
Phụ nữ có kinh muộn (15-18 tuổi) và mãn kinh sớm (40 tuổi) cũng thuộc nhóm đối tượng có nguy cơ cao mắc ung thư âm đạo.
Ngoài ra, trong những tài liệu y văn cổ, người ta nhận thấy có khoảng 30-50% bệnh nhân ung thư âm hộ có mắc bệnh giang mai, bệnh u hạt hay hoa liễu cũng hay gặp.


Bệnh nhân có thể có biểu hiện triệu chứng ở âm hộ một cách mơ hồ hoặc có biểu hiện kích thích như ngứa. Đau khi có tổn thương gần âm vật hoặc niệu đạo, gây nên khó chịu khi tiểu tiện. Nhiễm trùng bội nhiễm của khối u ác tính cũng gây đau và tiết dịch. Khám lâm sàng có thể thấy tổn thương khối u, loét, chảy máu. Khoảng 5% có hạch ở bẹn hoặc bị áp xe hóa.
Ngoài ra, khi âm hộ bị thay đổi về màu sắc, chẳng hạn như âm hộ bỗng nhiên trắng hoặc đỏ hơn bình thường; vùng da của âm hộ thay đổi bất thường như phát ban, nổi mẩn, nốt ruồi, lốm đốm màu hoặc mụn cóc xuất hiện; đau rát khi tiểu tiện và quan hệ tình dục. Thậm chí lúc bình thường cũng có cảm giác đau…
Phòng tránh bệnh ung thư âm hộ
Ngay cả khi bạn không phải là đối tượng thuộc nhóm nguy cơ cao, bạn vẫn cần cảnh giác với bệnh ung thư âm hộ. Các chị em cần chú ý đến những thay đổi bất thường trên cơ thể, đặc biệt là bộ phận sinh dục của mình. Đừng ngại ngần đến gặp bác sỹ để được thăm khám và làm các xét nghiệm cơ bản để phát hiện bệnh.
Các chị em hãy nhớ sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục. Tình dục an toàn lành mạnh sẽ giảm thiểu nguy cơ nhiễm virus HPV, đồng nghĩa với việc giảm nguy cơ bị ung thư âm hộ. Bạn nên sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục, đặc biệt với những người có nhiều bạn tình để bảo vệ cơ thể.
Tiêm vacine ngừa virus HPV cũng là biện pháp tốt giúp bạn ngăn ngừa căn bệnh này. Mặc dù chưa có vacine phòng chống tất cả các chủng virus HPV nhưng những chủng có nguy cơ gây ung thư bộ phận sinh dục đều đã có vacine ngừa bệnh. Chính vì thế, chủng ngừa vacine HPV không chỉ bảo vệ bạn khỏi bệnh tình dục do virus này gây ra mà còn giúp bạn giảm thiểu nguy cơ mắc hàng loạt các bệnh ung thư nguy hiểm như ung thư âm hộ, ung thư âm đạo, ung thư cổ tử cung… Bạn nên tiêm vacine này trước tuổi 26 tuổi, tốt nhất là trước khi bắt đầu quan hệ tình dục.
Khám phụ khoa định kỳ 6 tháng/lần để phát hiện và chữa khỏi các bệnh liên quan ngay khi mới mắc phải. Khi cơ quan sinh dục có các dấu hiệu bất thường như đau, rát, ngứa ngáy cần đi khám ngay, tránh tình trạng viêm nhiễm nặng dễ gây biến chứng vào các bộ phận quan trọng bên trong như ống dẫn trứng, phần phụ, tử cung…
Kiểm tra khung xương chậu định kỳ 1 năm/1 lần để chẩn đoán ung thư âm hộ và các ung thư vùng sinh dục khác mà bạn có thể mắc.
Nếu không may bị mắc bệnh, cần phải được phát hiện ở giai đoạn sớm thì khả năng chữa bệnh thành công là khá cao. Vì vậy, hãy biết phòng tránh, tự bảo vệ sức khỏe cho chính mình để có một cuộc sống thật viên mãn.

Triệu chứng và tầm soát ung thư đại trực tràng

CÁC TRIỆU CHỨNG
Thay đổi trong các hoạt động ruột (tiêu chảy hoặc táo bón)
Cảm thấy rằng ruột của bạn không trống rỗng hoàn toàn
Thấy máu (hoặc màu đỏ tươi hoặc rất sẫm) trong phân của bạn
Thấy phân của bạn là hẹp hơn so với bình thường
Thường xuyên thấy đau hoặc co thắt ruột do đầy hơi, hoặc cảm giác đầy bụng hoặc chướng bụng
Giảm cân không rõ nguyên nhân
Cảm thấy rất mệt mỏi mọi lúc
Thấy buồn nôn hoặc nôn

Thông thường, các triệu chứng này không phải do ung thư đại trực tràng. Các vấn đề sức khỏe khác có thể gây ra một số các triệu chứng này. Ngoài ra, điều quan trọng cần lưu ý là ung thư giai đoạn đầu thường không gây đau. Vì vậy, bất cứ ai có những triệu chứng này nên đi khám bác sĩ để được chẩn đoán và điều trị càng sớm càng tốt.
TẦM SOÁT VÀ CHẨN ĐOÁN
Các xét nghiệm tầm soát giúp bác sĩ tìm thấy bướu thịt (các polip) hoặc ung thư trước khi bạn có các triệu chứng. Phát hiện sớm ung thư đại trực tràng cũng sẽ làm tăng sự hiệu quả của điều trị ung thư. Các xét nghiệm kiểm tra sau đây có thể được sử dụng để chẩn đoán ung thư đại trực tràng hoặc các biểu hiện khác.
Xét nghiệm máu trong phân (FOBT)
Đôi khi các ung thư hay các u thịt (polyp) gây chảy máu, và FOBT có thể phát hiện một lượng nhỏ máu trong phân. Nếu xét nghiệm này cho thấy có máu, khi đó các xét nghiệm khác là cần thiết để tìm nguồn gốc của máu. Các tình trạng lành tính (như bệnh trĩ), cũng có thể gây ra máu trong xét nghiệm này.
Sự bơm thụt bari tương phản kép
Thủ pháp này liên quan đến việc làm đầy đại tràng và trực tràng với một chất lỏng màu trắng (Bari) để nâng cao chất lượng các hình ảnh X-quang. Các bất thường (chẳng hạn như các bướu thịt – polyp) có thể được nhìn thấy rõ ràng.
Soi đại trực tràng sigma
Bác sĩ kiểm tra trực tràng và phần dưới của đại tràng với một ống sáng (ống soi đại trực tràng sigma). Sự phát triển tiền ung thư và ung thư đại trực tràng và phần dưới của đại tràng có thể được tìm thấy và hoặc được lấy ra hoặc được sinh thiết.
Nội soi ảo đại tràng
Trong xét nghiệm này, thiết bị X-quang đặc biệt được sử dụng để đưa ra các hình ảnh của đại tràng và trực tràng. Một máy tính tập hợp những hình ảnh này thành các hình ảnh chi tiết mà nó có thể hiển thị các bướu thịt – polyp và các bất thường khác.
Nếu bạn có các triệu chứng như kể trên hoặc kết quả kiểm tra cho thấy ung thư đại trực tràng, bác sĩ sẽ phải tìm hiểu xem liệu nó bắt nguồn từ ung thư hay từ các bệnh khác.
Bác sĩ sẽ hỏi bạn về tiền sử bệnh lý cá nhân, gia đình và thực hiện thăm khám.
Nếu các bất thường chẳng hạn như các bướu thịt – polip được tìm thấy, bạn có thể cần thực hiện thêm sinh thiết. Thông thường, các mô bất thường có thể được loại bỏ trong quá trình nội soi đại trực tràng hoặc soi đại trực tràng sigma. Một nhà nghiên cứu bệnh học sẽ sử dụng kính hiển vi để kiểm tra mô cho các tế bào ung thư.
Ung thư đại trực tràng được đánh giá như thế nào?
Nếu sinh thiết cho thấy bệnh ung thư hiện hữu, bác sĩ của bạn cần biết mức độ bệnh để lập kế hoạch điều trị tốt nhất. Việc đánh giá giai đoạn ung được dựa trên tình hình khối u đã xâm lấn các mô lân cận hay chưa, liệu ung thư đã lan rộng hay chưa và lan tới những bộ phận nào của cơ thể.
Các bác sĩ mô tả ung thư đại trực tràng bởi các giai đoạn sau đây:
Giai đoạn 0: Ung thư chỉ được tìm thấy ở lớp niêm mạc trong cùng của đại tràng hoặc trực tràng. Ung thư biểu mô tại chỗ là một tên khác cho ung thư đại trực tràng Giai đoạn 0.
Giai đoạn I: Khối u đã phát triển vào thành trong của đại tràng hoặc trực tràng. Khối u chưa phát triển vượt qua thành.
Giai đoạn II: Khối u phát triển sâu hơn vào trong hoặc xuyên qua thành đại tràng hoặc trực tràng. Nó có thể đã xâm lấn các mô lân cận, nhưng các tế bào ung thư chưa lây lan đến các hạch bạch huyết.
Giai đoạn III: Ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết gần đó, nhưng chưa đến các bộ phận khác của cơ thể.
Giai đoạn IV: Ung thư đã lan ra các bộ phận khác của cơ thể, như gan hoặc phổi.
Tái phát: Đây là ung thư đã được điều trị và tái phát trở lại sau một khoảng thời gian khi ung thư không thể được phát hiện. Bệnh có thể tái phát trở lại trong đại tràng hay trực tràng, hoặc trong một bộ phận khác của cơ thể.

Ung thư đại trực tràng là do các nguyên nhân nào?

Ung thư đại trực tràng bắt nguồn từ các mô đại tràng (phần dài nhất của ruột già) hoặc trực tràng (vài cm cuối cùng của ruột già trước hậu môn). Hầu hết các ung thư đại trực tràng là các khối u ác tính bắt nguồn từ mô tuyến (ung thư bắt đầu trong các tế bào có chức năng tạo và giải phóng chất nhầy và các chất dịch khác).
Ung thư trực tràng hiện đang gia tăng ở cả nam và nữ. Trong hầu hết các trường hợp, ung thư trực tràng khởi phát từ một polyp phát triển thành ung thư.

Không ai biết các nguyên nhân chính xác của ung thư đại trực tràng. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng những người có các yếu tố nguy cơ nhất định có nhiều khả năng hơn những người khác để phát triển bệnh ung thư đại trực tràng.
Các polyp trực tràng
Các polyp mọc trên thành bên trong của đại tràng hoặc trực tràng và thường gặp ở người trên 50 tuổi. Hầu hết các polip là lành tính (không phải ung thư), nhưng một số polip (u tuyến) có thể trở thành ung thư.
Viêm loét đại tràng hoặc bệnh Crohn’s
Một người đã bị một bệnh lý gây ra viêm đại tràng (như viêm loét đại tràng hoặc bệnh Crohn) trong nhiều năm sẽ có nguy cơ ung thư tăng cao.
Tiền sử cá nhân từng bị ung thư:
Một người đã bị ung thư đại trực tràng có thể phát triển ung thư đại trực tràng lần thứ hai. Ngoài ra, phụ nữ có tiền sử ung thư buồng trứng, tử cung (nội mạc tử cung), hoặc ung thư vú có nguy cơ cao hơn một chút bị phát triển ung thư đại trực tràng.
Tiền sử gia đình có người mắc bệnh ung thư trực tràng:
Nếu bạn có một tiền sử gia đình dương tính của bệnh ung thư đại trực tràng, bạn có nhiều khả năng hơn những người khác bị phát triển căn bệnh này, đặc biệt là nếu người thân của bạn đã bị ung thư khi còn trẻ.
Các yếu tố lối sống:
Những người hút thuốc lá, hoặc dùng một chế độ ăn nhiều thịt đỏ hoặc bị chế biến và ít chất xơ có nguy cơ tăng cao của ung thư đại trực tràng.
Trên 50 tuổi:
Ung thư đại trực tràng có nhiều khả năng xảy ra đối với những người lớn tuổi. Hơn 90 phần trăm số người mắc bệnh này được chẩn đoán sau tuổi 50 và lớn hơn.