Thứ Năm, 22 tháng 1, 2015

Chẩn đoán ung thư cổ tử cung theo giai đoạn bệnh

Phân loại.
Theo Hiệp hội khoa phụ sản quốc tế, ung thư cổ tử cung được chia làm 5 giai đoạn lâm sàng, gồm có: Giai đoạn 0, giai đoạn 1, giai đoạn 2, giai đoạn 3, giai đoạn 4.
Giai đoạn 0: Tổ chức ung thư giới hạn ở bên trong biểu mô cổ tử cung, chưa trồi lên phá hoại mô đáy nền, đó cũng là ung thư nguyên vị.
Giai đoạn 1: Tổ chức ung thư tuy đã trồi lên phá hoại mô đáy nền, song vẫn giới hạn trong phạm vi cổ tử cung.
Giai đoạn 2: Tổ chức ung thư vượt qua phạm vi cổ tử cung, lan lên thân tử cung, vào hai bên tử cung nhưng chưa lan đến thành khung chậu; ung thư lan đến âm đạo nhưng chưa ảnh hưởng đến 1/3 đoạn dưới âm đạo.
Giai đoạn 3: Tổ chức ung thư lan đến hai bên tử cung, thành khung chậu hay xuống đến 1/3 đoạn dưới âm đạo.
Giai đoạn 4: Tổ chức ung thư lan đến trực tràng và bàng quang, dài đến âm đạo ngoài hay lan rộng trong khung chậu, hoặc di căn đến bộ phận ở xa khác.
Chẩn đoán ung thư cổ tử cung

Từ các triệu chứng trên, nếu nghi ngờ bệnh nhân bị ung thư cổ tử cung, bác sĩ sẽ tiến hành các kiểm tra thăm khám sau:
Làm xét nghiệm kính phết.
Nếu xét nghiệm kính phết cho thấy các tế bào bất thường, bệnh nhân sẽ được soi âm đạo để kiểm tra các vùng bất thường. Một mẫu mô sẽ được lấy ra từ cổ tử cung và được kiểm tra dưới kính hiển vi để tìm dấu hiệu của tế bào ung thư.
Sau khi bệnh nhân đã được chẩn đoán bị ung thư cổ tử cung, các xét nghiệm tiếp theo sẽ đưuọc tiến hành để kiểm tra xem bệnh đã lan đến các phần khác trong cơ thể hay chưa? Các xét nghiệm này bao gồm chụp X- quang ngực hay làm MRI ngực để xem xét phổi, làm xét nghiệm máu, quét CT bụng để đánh giá hoạt động của gan.
Xem thêm về ung thư cổ tử cung tại: http://benhvienungbuouhungviet.vn/tim-hieu-benh-ung-thu/ung-thu-co-tu-cung.aspx

Những biểu hiện sớm của ung thư cổ tử cung

Ung thư cổ tử cung đang là nguyên nhân gây tử vong thứ hai ở phái nữ. Nếu được phát hiện sớm, 92% người mắc ung thư cổ tử cung có thể được chữa khỏi. Tuy nhiên, ở Việt Nam, tỷ lệ người mắc ung thư cổ tử cung được phát hiện sớm lại không cao. Xác định được các biểu hiện của ung thư cổ tử cung sẽ giúp mọi người phát hiện nó được sớm hơn.
Các biểu hiện ung thư cổ tử cung đó là:
Huyết trắng dai dẳng, có mùi hôi hoặc có vấy một chút máu
Chảy máu bất thường trong âm đạo
Bạn bị chảy máu bất thường trong chu kì kinh nguyệt bình thường
Chảy máu sau khi quan hệ tình dục, thụt rửa hoặc khám bệnh
Chảy máu trong suốt thời gian dài, rong kinh
Chảy máu nhiều sau thời kì mãn kinh
Vùng xương chậu thường xuyên có cảm giác đau
Cảm giác đau sau khi làm “chuyện ấy” 



Các dấu hiệu khác thường dưới đây sẽ cảnh báo giúp bạn phát hiện sớm và ngăn ngừa bệnh:
Giai đoạn tiền ung thư thường không có triệu chứng.
Sau đó có thể xuất hiện các triệu chứng:
Khi bệnh nặng, có chảy dịch nhiều lẫn máu từ âm đạo, kèm với đau nhức vùng lưng, vùng chậu hoặc ở chân. Ở giai đoạn muộn, bệnh nhân bị vô niệu do ung thư chèn ép vào hai niệu quản.
Nếu còn bất cứ vấn đề gì, bạn có thể truy cập website của chúng tôi tạihttp://benhvienungbuouhungviet.vn/ hoặc đến trực tiếp địa chỉ:
Bệnh Viện Ung Bướu Hưng Việt
Địa chỉ: Số 34 Đường Đại Cồ Việt, Hai Bà Trưng, Hà Nội
Điện thoại: 0462 50 07 07 | Fax: 04.6280 0108

Phương pháp điều trị ung thư cổ tử cung

Ung thư cổ tử cung đang là nguyên nhân gây tử vong thứ hai ở phái nữ. Nếu được phát hiện sớm, 92% người mắc ung thư cổ tử cung có thể được chữa khỏi. Tuy nhiên, ở Việt Nam, tỷ lệ người mắc ung thư cổ tử cung được phát hiện sớm lại không cao. Xác định được các giai đoạn phát triển của ung thư cổ tử cung sẽ giúp mọi người phát hiện nó được sớm hơn.
Ba phương pháp điều trị ung thư cổ tử cung được áp dụng cho điều trị ung thư cổ tử cung:
• Phẫu thuật (cắt bỏ ung thư bằng phẫu thuật)
• Tia xạ trị liệu (dùng tia X liều cao hoặc tia có năng lượng cao khác để tiêu diệt Tế bào ung thư).
• Hóa trị liệu (sử dụng thuốc để tiêu diệt tế bào ung thư)
dieu tri ung thu co tu cung
Bác sĩ có thể sử dụng một trong vài phương pháp phẫu thuật trong điều trị ung thư cổ tử cung biểu mô nông tại chỗ để tiêu diệt mô ung thư:
• Phẫu thuật lạnh là phương pháp tiêu diệt tế bào ung thư bằng cách làm đông lạnh nó.
• Phẫu thuật bằng tia lazer là phương pháp dùng chùm tia hẹp có cường độ ánh sáng mạnh để diệt tế bào ung thư.

Bác sĩ có thể loại bỏ ung thư bằng cách áp dụng một trong ba dạng phẫu thuật sau:
• Thủ thuật cắt bỏ mô hình nón là phương pháp lấy ra một mảnh mô hình nón ở nơi phát hiện ra sự bất thường. Có thể áp dụng thủ thuật cắt hình nón để sinh thiết một mảnh mô. Nhưng phương pháp này chỉ được áp dụng để điều trị ung thư cố tử cung giai đoạn sớm.
• Bác sĩ có thể áp dụng phương pháp khác là cắt bằng vòng dây điện (LEEP) để loại bỏ mô bất thường. Phương pháp LEEP sử dụng một dòng điện truyền qua một vòng dây kim loại mảnh đóng vai trò như một con dao.
• Chữa trị ung thư cổ tử cung theo phương pháp chùm tia lazer có thể được sử dụng như một con dao để loại bỏ mô ung thư
• Thủ thuật cắt tử cung là phẫu thuật cắt bỏ tử cung và cổ tử cung cùng với ung thư. Nếu từ cung được lấy ra qua âm đạo thì phẫu thuật đó được gọi là thủ thuật cắt tử cung qua âm đạo. Nếu tử cung được lấy ra qua vết mổ ở bụng thì phẫu thuật đó được gọi là thủ thuật cắt toàn bộ tử cung qua ổ bụng. Đôi khi buồng trứng và vòi trứng cũng được cắt bỏ, loại phẫu thuật này được gọi là thủ thuật cắt buồng trứng và vòi trứng hai bên.
• Thủ thuật cắt tử là loại phẫu thuật mà trong đó cổ tử cung, tử cung và một phần âm đạo được cắt bỏ. Các hạch bạch huyết trong vùng này cũng được vét bỏ.Phương pháp chữa trị ung thư cổ tử cung nhằm cát bỏ triệt để những vùng ung thư.
• Nếu ung thư đã lan ra ngoài cổ tử cung hay những cơ quan sinh dục, bác sĩ có thể cắt bỏ đoạn dưới đại tràng, trực tràng, hoặc bàng quang (tuỳ vào vị trí mà ung thư đã lan tới) cùng với cổ tử cung, tử cung và âm đạo. Phương pháp điều trị ung thư cổ tử cung này được gọi là cắt bỏ nội tạng và hiếm khi được sử dụng. Có thể sau đó phải tiến hành phầu thuật tạo hình để tạo âm đạo giả.
Tia xạ trị liệu là việc sử dụng tia X hay những tia có năng lượng cao khác để tiêu diệt tế bào ung thư và làm khối u nhỏ lại. Tia phóng xạ có thể xuất phát từ một máy bên ngoài cơ thể (chiếu xạ ngoài) hay từ những nguyên liệu phát xạ (các chất đồng vị phóng xạ) được đưa vào vùng có tế bào ung thư qua những ống nhựa nhỏ (chiếu xạ trong). Có thể sử dụng tia phóng xạ đơn độc hoặc bổ sung cho phẫu thuật.

Hóa trị liệu là phương pháp chữa trị ung thử cổ tử cung bằng sử dụng thuốc để tiêu diệt tế bào ung thư. Thuốc có thể ở dạng uống như viên nang hoặc có thể được đưa vào cơ thể bằng cách tiêm vào tĩnh mạch. Hóa trị liệu còn được gọi là phương pháp điều trị hệ thống hay toàn thân bởi thuốc đi vào mạch máu tới khắp cơ thể và có thể tiêu diệt tế bào ung thư ở ngoài cổ tử cung.

Nguồn: http://benhvienungbuouhungviet.vn/tim-hieu-benh-ung-thu/ung-thu-co-tu-cung/dieu-tri-ung-thu-co-tu-cung.aspx

Tiền ung thư cổ tử cung có những tổn thương gì?

Ung thư cổ tử cung là bệnh ác tính thường gặp nhất ở đường sinh dục nữ, đứng thứ hai sau ung thư vú.
Tuổi thường gặp là 45 nhưng có thể gặp ở mọi lứa tuổi, ngay cả khi mang thai. 95 % ung thư ở giai đoạn sớm có thể chữa khỏi.
Quá trình sinh bệnh học thường dài và trải qua những giai đoạn của khối u trong biểu mô, tiếp sau đó là ung thư xâm lấn. Quá trình này biến đổi trong nhiều năm nhưng không phải tất cả các ung thư xâm lấn đều trải qua những giai đoạn này.
Tổn thương tiền ung thư.
Định nghĩa: tổn thương tiền ung thư còn gọi là loạn sản, chỉ sự rối loạn phát triển biểu mô cổ tử cung ở một vùng bất thường mà trong đó một phần biểu mô lát được thay thế bằng những tế bào bất thường. Về mặt tế bào học, loạn sản thường được phân thành các mức độ nhẹ, trung bình và nặng.
Loạn sản nhẹ (LSIL, CIN1), loạn sản trung bình (HSIL, CIN2) và loạn sản nặng (HSIL, CIN3) thường tiển triển thành ung thư trong biểu mô.
+ Loạn sản nhẹ (LSIL, CIN1) có tỷ lệ tự thóai triển cao, trên phiến đồ chỉ chứa ít tế bào loạn sản nhẹ phần lớn là tế bào nông.
+ Loạn sản trung bình (HSIL, CIN2) số lượng tế bào loạn sản và mức độ bất thường của nguyên sinh chất và nhân gia tăng. Tế bào loạn sản xuất phát từ lớp trên và lớp giữa của biểu mô lát bình thường hoặc biểu mô lát dị sản, có thể biểu hiện sừng hóa.
+ Loạn sản nặng (HSIL, CIN3) còn gọi là ung thư trong biểu mô (CIS): là các loạn sản có các tế bào bất thường ở lớp sâu của biểu mô lát.
Đặc điểm của tế bào loạn sản trên tiêu bản là sự phân bố tế bào chủ yếu đơn độc, đôi khi thành mảng có nhân lớn rõ rệt, tỷ lệ nhân trên nguyên sinh chất tăng mạnh, nguyên sinh chất mịn.
Ung thư trong biểu mô có các tế bào loạn sản chưa xâm lấn qua màng đáy.
1. Những yếu tố nguy cơ.
- Nhiễm HPV (human papilloma virus) typ 16, 18.
- Hoạt động tình dục sớm dưới 16 tuổi.
- Có nhiều bạn tình.
- Mắc các bệnh LTQĐTD.
- Sinh đẻ sớm.
- Điều kiện vệ sinh kém.
2. Chẩn đoán.
Tổn thương tiền ung thư thường không có triệu chứng lâm sàng đôi khi người bệnh đến khám vì ra khí hư hoặc vì một lý do khác. Để chẩn đoán ung thư cổ tử cung dựa vào tế bào âm đạo - cổ tử cung, soi cổ tử cung, sinh thiết.
Tuyến xã.
- Bôi acid acetic lên cổ tử cung (test VIA: visual inspection with acetic acid) nếu thấy tổn thương trắng nổi rõ là test dương tính thì chuyển tuyến trên.
- Bôi Lugol lên cổ tử cung (test VILI: visual inspection with Lugol’Iodine) có màu vàng nghệ là test dương tính thì chuyển tuyến.
Tuyến huyện.
- Làm tế bào âm đạo - cổ tử cung: biểu mô lát không bình thường từ loạn sản nhẹ đến nặng.
- Soi cổ tử cung:
+ Tất cả các người bệnh có tế bào bất thường đều phải soi cổ tử cung.
+ Có thể thấy tổn thương vết trắng, lát đá, chấm đáy hoặc một tổn thương hủy hoại, vùng biến đổi giữa biểu mô lát và biểu mô trụ.
- Sinh thiết cổ tử cung:
+ Trên cơ sở soi cổ tử cung, bấm sinh thiết để chẩn đoán xác định.
+ Đây là phương pháp duy nhất để chẩn đoán xác định và có quyết định điều trị. Nếu soi cổ tử cung thấy tổn thương trong ống cổ tử cung thì phải nạo niêm mạc ống cổ tử cung gửi xét nghiệm mô bệnh học.
3. Điều trị.
Tuyến huyện và tuyến tỉnh.
- Đối với các tổn thương tiền ung thư cổ tử cung, phải được điều trị ngay sau khi chẩn đoán.
- Phương pháp điều trị có thể là áp lạnh, đốt điện, đốt bằng laser, khoét chóp, cắt cụt cổ tử cung tùy theo tổn thương.
- Đối với người lớn tuổi với tổn thương CIN3 thì nên cắt tử cung hoàn toàn và hai phần phụ.
- Dự phòng:
+ Khám sàng lọc tế bào âm đạo - cổ tử cung định kỳ hàng năm để phát hiện sớm tổn thương tiền ung thư.
+ Tiêm vaccin phòng HPV cho trẻ em gái từ 10 tuổi đến 26 tuổi (nếu chưa quan hệ tình dục).
Nếu còn bất cứ vấn đề gì, bạn có thể truy cập website của chúng tôi tạihttp://benhvienungbuouhungviet.vn/ hoặc đến trực tiếp địa chỉ:
Bệnh Viện Ung Bướu Hưng Việt
Địa chỉ: Số 34 Đường Đại Cồ Việt, Hai Bà Trưng, Hà Nội
Điện thoại: 0462 50 07 07 | Fax: 04.6280 0108

Ung thư cổ tử cung và các con số

Theo thống kê, mỗi năm trên thế giới có khoảng 280.000 phụ nữ tử vong vì căn bệnh ung thư cổ tử cung, trong đó có đến 80% số ca tử vong xảy ra ở những nước có mức sống thấp.

Tại Việt Nam, hàng năm có đến hơn 6.000 phụ nữ phát hiện bị ung thư cổ tử cung và hơn nửa số đó tử vong, đồng nghĩa với mỗi ngày có 9 phụ nữ Việt Nam chết vì căn bệnh này. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, đây là căn bệnh ung thư thường gặp hàng đầu ở phụ nữ từ 15- 44 tuổi tại Việt Nam.

Tất cả phụ nữ đều có nguy cơ bị ung thư cổ tử cung nếu như có các yếu tố phơi nhiễm sau: Có quan hệ tình dục hay quan hệ tình dục nhiều, sớm; hút thuốc; có nhiều bạn tình; nhiễm trùng, có tiền sử bị mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục như herpes sinh dục. Một nhân tố khác liên quan đến ung thư cổ tử cung là sinh hoạt tình dục sớm khi cổ tử cung chưa hồi phục hoàn toàn (khi hành kinh, đẻ, sảy thai, nạo hút thai, đặt vòng, tháo vòng).



Triệu chứng ung thư cổ tử cung giai đoạn đầu thường nghèo nàn. Chủ yếu người bệnh thấy ra máu bất thường ngoài kỳ kinh, rối loạn kinh nguyệt và tiền sử kinh nguyệt ra nhiều, khí hư lẫn máu... Nếu không định kỳ khám phụ khoa và làm các xét nghiệm chẩn đoán sớm thì thường không nhận biết bệnh ở giai đoạn sớm.

Phòng và phát hiện sớm

BS T cho biết, năm 2013, trong tổng số 5.500 ca ung thư nhập viện tại bệnh viện thì ung thư cổ tử cung phát hiện mới là 665 ca, chiếm tỷ lệ khoảng 13%. Phần lớn bệnh nhân ở nông thôn, kinh tế hạn chế, số lượng đi khám sàng lọc, tầm soát ung thư rất ít, cộng thêm tâm lý e ngại khám phụ khoa dẫn đến nhiều trường hợp khi phát hiện thì bệnh đã ở giai đoạn muộn, việc điều trị rất tốn kém, khó khăn. Ngoài ra, nhiều chị em chưa thật sự quan tâm tìm hiểu kiến thức cũng như chủ quan đối với căn bệnh này.

Theo BS T, ung thư cổ tử cung có thể chữa khỏi 90% nếu được tầm soát phát hiện ở giai đoạn sớm. Để phát hiện sớm bệnh, tất cả phụ nữ nên đi thử PAP smear (còn gọi là phết tế bào âm đạo). Đây là một xét nghiệm đơn giản, nhanh chóng, không gây đau, giúp phát hiện sớm ung thư cổ tử cung, nhờ đó bệnh nhân được điều trị sớm, ngăn ngừa ung thư phát triển. Phụ nữ nên làm xét nghiệm này sau khi bắt đầu có quan hệ tình dục, ít nhất mỗi năm một lần và duy trì suốt đời.

U nhú ở người (HPV) và ung thư cổ tử cung

Thông tin chính
U nhú ở người (HPV) là một nhóm virút rất phổ biến trên toàn thế giới.
Có hơn 100 loại HPV, trong đó ít nhất 13 là gây ung thư (còn được gọi là loại có nguy cơ cao).
HPV chủ yếu lây truyền qua đường tình dục và hầu hết mọi người bị nhiễm HPV không lâu sau khi bắt đầu có quan hệ tình dục.
Ung thư cổ tử cung là do nhiễm trùng qua đường tình dục có được với một số loại HPV.
Hai loại HPV (16 và 18) gây ra 70% các ca ung thư cổ tử cung và các tổn thương tiền ung thư cổ tử cung.
Ngoài ra còn có bằng chứng liên quan HPV với ung thư hậu môn, âm hộ, âm đạo và dương vật.
Ung thư cổ tử cung là loại ung thư phổ biến thứ hai ở phụ nữ, với ước tính 530 000 trường hợp mới trong năm 2012.
Trong năm 2012, khoảng 270 000 phụ nữ chết vì ung thư cổ tử cung; hơn 85% các ca tử vong xảy ra ở thu nhập thấp và thu nhập trung bình quốc gia.
Vắc xin chống HPV 16 và 18 đã được chấp thuận cho sử dụng ở nhiều nước.
Tổng quan
U nhú ở người (HPV) là bệnh nhiễm virus phổ biến nhất ở đường sinh sản. Tình dục hầu hết phụ nữ và nam giới hoạt động sẽ bị nhiễm bệnh tại một số điểm trong cuộc sống của họ và một số có thể bị nhiễm nhiều lần.
Thời gian cao điểm cho việc mua nhiễm cho cả phụ nữ và nam giới là ngay sau khi quan hệ tình dục. HPV lây truyền qua đường tình dục, nhưng tình dục thâm nhập là không cần thiết để truyền. Skin-to-da tiếp xúc sinh dục là một phương thức được thừa nhận của truyền.
Có nhiều loại HPV, và nhiều người không gây ra vấn đề. Nhiễm HPV thường dọn lên mà không cần bất kỳ sự can thiệp trong vòng một vài tháng sau khi mua lại, và khoảng 90% rõ ràng trong vòng 2 năm. Một tỷ lệ nhỏ các bệnh nhiễm trùng với một số loại HPV có thể tồn tại và phát triển thành ung thư.
Ung thư cổ tử cung là bởi đến nay các bệnh liên quan đến HPV phổ biến nhất. Gần như tất cả các trường hợp ung thư cổ tử cung có thể là do nhiễm HPV.
Mặc dù số liệu về bệnh ung thư anogenital khác không phải ung thư cổ tử cung được giới hạn, có một cơ thể ngày càng tăng của bằng chứng liên quan HPV với ung thư hậu môn, âm hộ, âm đạo, và dương vật. Mặc dù các bệnh ung thư rất ít thường xuyên hơn so với ung thu co tu cung, quan hệ của họ với HPV có khả năng làm cho họ có thể phòng ngừa bằng cách sử dụng các chiến lược phòng ngừa ban đầu tương tự như đối với ung thư cổ tử cung.
Ung thư các loại HPV gây ra (đặc biệt là loại 6 và 11) có thể gây ra mụn cóc sinh dục và papillomatosis hô hấp (một căn bệnh trong đó các khối u phát triển trong đường dẫn khí hàng đầu từ mũi và miệng vào phổi). Mặc dù những điều kiện rất hiếm khi dẫn đến tử vong, họ có thể gây ra xuất quan trọng của bệnh. Mụn cóc sinh dục là rất phổ biến và rất hay lây.
Các dấu hiệu và triệu chứng
Đa số các trường hợp nhiễm HPV không gây triệu chứng hoặc bệnh và giải quyết một cách tự nhiên. Tuy nhiên, nhiễm trùng dai dẳng với các loại cụ thể của HPV (thường xuyên nhất loại 16 và 18) có thể dẫn đến các tổn thương tiền ung thư. Nếu không được điều trị, các tổn thương có thể tiến triển thành ung thư cổ tử cung, nhưng sự tiến triển này thường mất nhiều năm.
Các triệu chứng ung thư cổ tử cung có xu hướng chỉ xuất hiện sau khi ung thư đã đến giai đoạn tiên tiến và có thể bao gồm:
Chảy máu âm đạo bất thường, intermenstrual (giữa chu kỳ) hoặc bất thường sau khi quan hệ tình dục;
trở lại, chân hoặc đau vùng chậu;
  • mệt mỏi, giảm cân, chán ăn;
  • khó chịu ở âm đạo hoặc xả odourous; và
  • một chân bị sưng duy nhất.
Những triệu chứng nghiêm trọng có thể xảy ra ở giai đoạn tiến triển.
Làm thế nào nhiễm HPV dẫn đến ung thư cổ tử cung
Mặc dù hầu hết các bệnh nhiễm trùng HPV rõ ràng lên trên riêng của họ và hầu hết các tổn thương tiền ung thư giải quyết một cách tự nhiên, có một nguy cơ cho tất cả phụ nữ nhiễm HPV có thể trở thành mãn tính và tổn thương tiền ung thư tiến triển thành ung thư cổ tử cung xâm lấn.
Phải mất 15 đến 20 năm đối với ung thư cổ tử cung phát triển ở phụ nữ có hệ miễn dịch bình thường. Nó có thể chỉ mất 5-10 năm ở phụ nữ có hệ miễn dịch suy yếu, chẳng hạn như những người bị nhiễm HIV được điều trị.
Yếu tố nguy cơ cho HPV kiên trì và phát triển của ung thư cổ tử cung
Đầu quan hệ tình dục đầu tiên
Nhiều đối tác tình dục
Sử dụng thuốc lá
Ức chế miễn dịch (ví dụ, các cá nhân nhiễm HIV có nguy cơ cao lây nhiễm HPV và bị nhiễm bởi một phạm vi rộng lớn hơn của các loại HPV)
Phạm vi của vấn đề
Ung thư cổ tử cung là loại ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ thứ tư trên thế giới và đại diện cho 7,5% của tất cả các bệnh ung thư chết nữ. Nhiều phụ nữ nhiều hơn chết vì ung thư cổ tử cung ở các nước đang phát triển so với các nước giàu. Trong số ước tính hơn 270 000 người tử vong do ung thư cổ tử cung mỗi năm, có hơn 85% xảy ra ở các nước đang phát triển.
Ở các nước phát triển, các chương trình được đưa ra mà cho phép phụ nữ được sàng lọc, làm cho hầu hết các tổn thương tiền ung thư ở giai đoạn nhận dạng khi họ có thể dễ dàng được điều trị. Điều trị sớm ngăn chặn đến 80% các ca ung thư cổ tử cung ở những nước này.
Ở các nước đang phát triển, hạn chế tiếp cận để kiểm tra hiệu quả có nghĩa là bệnh thường không xác định cho đến khi nó được nâng cao hơn nữa và có triệu chứng.Ngoài ra, triển vọng trong điều trị bệnh giai đoạn cuối như thể là người nghèo, dẫn đến tỷ lệ tử vong cao do bệnh ung thư cổ tử cung ở những nước này.
Tỷ lệ tử vong cao do bệnh ung thư cổ tử cung trên toàn cầu (52%) có thể giảm chương trình sàng lọc và điều trị hiệu quả.
Sàng lọc ung thư cổ tử cung
Sàng lọc ung thư cổ tử cung được thử nghiệm cho tiền ung thư và ung thư ở phụ nữ không có triệu chứng và có thể cảm thấy hoàn toàn khỏe mạnh. Khi kiểm tra phát hiện các tổn thương tiền ung thư, những cách dễ dàng có thể được điều trị ung thư và tránh. Sàng lọc cũng có thể phát hiện ung thư ở giai đoạn sớm và điều trị có tiềm năng lớn để chữa bệnh.
Bởi vì các tổn thương tiền ung thư phải mất nhiều năm để phát triển, kiểm tra được khuyến khích cho mỗi người phụ nữ từ độ tuổi 30-49 ít nhất một lần trong đời và lý tưởng thường xuyên hơn. Sàng lọc là chỉ có hiệu quả trên tử vong ung thư cổ tử cung, nếu một tỷ lệ cao của phụ nữ tham gia.
Có 3 loại khác nhau của các xét nghiệm sàng lọc hiện đang có sẵn:
kiểm tra thông thường (Pap) và tế bào học dựa trên chất lỏng (LBC)
kiểm tra trực quan với Acid Acetic (VIA)
Xét nghiệm HPV cho các loại HPV nguy cơ cao.
Tiêm phòng HPV

Hiện tại có 2 loại vắc-xin nhằm chống lại cả HPV 16 và 18, được biết là gây ra ít nhất 70% các ca ung thư cổ tử cung. Các vắc-xin cũng có thể có một số bảo vệ chéo với các loại HPV ít phổ biến khác gây ung thư cổ tử cung. Một trong những loại vắc-xin cũng bảo vệ chống lại các loại HPV 6 và 11 gây mụn cóc anogenital.
Kết quả thử nghiệm lâm sàng cho thấy rằng cả hai loại vắc-xin an toàn và rất hiệu quả trong việc ngăn ngừa nhiễm HPV 16 và 18.
Cả hai loại vắc-xin làm việc tốt nhất nếu được tiêm trước khi tiếp xúc với HPV. Vì vậy, nó là thích hợp hơn để quản lý chúng trước khi sinh hoạt tình dục đầu tiên.
Các vắc-xin không thể điều trị nhiễm HPV hoặc bệnh HPV liên quan như ung thư.
Một số nước đã bắt đầu tiêm chủng cho trẻ em trai như tiêm chủng ngăn ngừa bệnh ung thư sinh dục ở nam giới cũng như nữ giới, và một trong hai loại vắc-xin có sẵn cũng ngăn ngừa mụn cóc sinh dục ở nam và nữ. WHO khuyến cáo tiêm chủng cho trẻ em gái tuổi từ 9-13 năm vì đây là các biện pháp y tế công cộng chi phí-hiệu quả nhất chống lại bệnh ung thư cổ tử cung.
Tiêm vắc xin HPV không thay thế tầm soát ung thư cổ tử cung. Ở những nước mà vắc-xin HPV được giới thiệu, chương trình sàng lọc vẫn có thể cần phải được phát triển hoặc tăng cường.
Phòng ngừa ung thư cổ tử cung và kiểm soát: Một cách tiếp cận toàn diện
WHO khuyến cáo một cách tiếp cận toàn diện để phòng ngừa ung thư cổ tử cung và kiểm soát. Các thiết lập được đề nghị của các hành động can thiệp bao gồm trên suốt cuộc đời. Nó phải là đa ngành, bao gồm các thành phần từ giáo dục cộng đồng, huy động xã hội, tiêm chủng, khám, điều trị và chăm sóc giảm nhẹ.
Phòng ngừa ban đầu bắt đầu với tiêm phòng HPV của cô gái tuổi từ 9-13 năm, trước khi họ trở thành hoạt động tình dục.
Đề nghị can thiệp phòng ngừa khác cho trẻ em trai và trẻ em gái là thích hợp là:
giáo dục về thực hành tình dục an toàn, bao gồm chậm đầu của hoạt động tình dục;
xúc tiến và cung cấp bao cao su cho những người đã tham gia vào hoạt động tình dục;
cảnh báo về việc sử dụng thuốc lá, trong đó thường bắt đầu trong thời niên thiếu, và đó là một yếu tố nguy cơ quan trọng cho cổ tử cung và các bệnh ung thư; và
cắt bao qui đầu.
Phụ nữ có hoạt động tình dục nên được sàng lọc tế bào cổ tử cung bất thường và các tổn thương tiền ung thư, bắt đầu từ 30 tuổi trở lên.
Nếu việc điều trị là cần thiết để cắt bỏ các tế bào bất thường hoặc tổn thương, phương pháp áp lạnh (phá hủy mô bất thường ở cổ tử cung bằng cách đóng băng nó) được khuyến khích.
Nếu các dấu hiệu của bệnh ung thư cổ tử cung có mặt, lựa chọn điều trị cho bệnh ung thư xâm lấn bao gồm phẫu thuật, xạ trị và hóa trị.

Các triệu chứng xâm lấn của ung thư cổ tử cung

Các triệu chứng xâm lấn của ung thư cổ tử cung.
Phụ nữ bị ung thư cổ tử cung có xu hướng không có triệu chứng cho đến khi ung thư đã trở xâm lấn. Ung thư lây lan là một trong đó các tế bào phát triển thông qua các lớp trên cùng của mô cổ tử cung. Họ "xâm chiếm" các mô sâu hơn bên dưới.
Khi phụ nữ có các triệu chứng ung thư cổ tử cung, có thể bao gồm:
  • Chảy máu âm đạo bất thường
  • Khí hư âm đạo có mùi khó chịu
  • Khí hư âm đạo chảy nước
  • Khí hư âm đạo nhuốm máu
  • Đau vùng chậu hoặc quay trở lại
  • Đau khi quan hệ tình dục
  • Vấn đề đi vệ sinh gặp khó khăn
  • Sưng chân
Chảy máu bất thường là triệu chứng phổ biến nhất của ung thư cổ tử cung. Chảy máu này có thể xảy ra sau khi quan hệ tình dục. Nó cũng có thể xảy ra giữa chu kỳ kinh nguyệt. Nó thậm chí có thể xảy ra ở phụ nữ sau mãn kinh có một chu kỳ kinh nguyệt đã ngừng. Chảy máu âm đạo ở phụ nữ sau mãn kinh chỉ ra một vấn đề y tế nghiêm trọng. Nó đòi hỏi một chuyến thăm một bác sĩ.
Ở phụ nữ trẻ tuổi, xuất huyết bất thường nhỏ có thể dễ dàng bỏ qua. Phát hiện ra giữa chu kỳ có thể có nghĩa là không có gì cả. Tuy nhiên, nó cũng có thể là một dấu hiệu ung thư cổ tử cung. Điều quan trọng là để nói cho bác sĩ của bạn nếu bạn bị chảy máu âm đạo giữa chu kỳ hay sau khi quan hệ tình dục. Bạn cũng nên liên hệ với bác sĩ của bạn nếu bạn đột nhiên bắt đầu có:
  • Đau khi quan hệ tình dục
  • Đi vệ sinh gặp khó khăn
Đây là những dấu hiệu tiềm ẩn của ung thư cổ tử cung và các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng khác. Họ yêu cầu chăm sóc y tế kịp thời.
Nếu còn bất cứ vấn đề gì, bạn có thể truy cập website của chúng tôi tại http://benhvienungbuouhungviet.vn/ hoặc đến trực tiếp địa chỉ:
Bệnh Viện Ung Bướu Hưng Việt
Địa chỉ: Số 34 Đường Đại Cồ Việt, Hai Bà Trưng, Hà Nội
Điện thoại: 0462 50 07 07 | Fax: 04.6280 0108