Thứ Sáu, 9 tháng 1, 2015

Sống trên 5 năm với ung thư thực quản

Ung thư thực quản là một trong số bệnh ung thư có tiên lượng bệnh kém và khó điều trị. Tuy nhiên, hiện nay với sự tiến bộ y khoa, tỷ lệ sống thêm 5 năm đối với người bệnh ung thư thực quản ngày càng được cải thiện.

Cẩn trọng khi khó nuốt


Thực quản là một ống tiêu hoá chứa thức ăn và các chất lỏng đi từ họng xuống dạ dày. Ung thư xuất phát từ thực quản bao gồm hai loại chính là ung thư biểu mô vảy và ung thư biểu mô tuyến tuỳ thuộc vào loại tế bào ung thư. Ung thư biểu mô vẩy xuất phát từ tế bào dạng biểu bì ở thành thực quản và thường xuất phát ở phần trên và giữa thực quản. Ung thư biểu mô tuyến thường phát triển từ tổ chức tuyến ở phần dưới thực quản.

Khi khối u lan tràn ra ngoài thực quản, đầu tiên nó thường đi đến hệ bạch huyết (hạch bạch huyết thường nhỏ, có cấu trúc bờ rõ và là một phần của hệ miễn dịch cơ thể). Ung thư thực quản cũng có thể xâm lấn ra hầu hết các bộ phận khác của cơ thể bao gồm: gan, phổi, não, xương...
ss
Ung thư thực quản là một trong những bệnh ung thư đường tiêu hóa phổ biến tại Việt Nam.
Dấu hiệu đầu tiên cho thấy bệnh ung thư thực quản là bệnh nhân thường cảm thấy như thức ăn dính vào thực quản. Theo thời gian, bệnh nhân cảm thấy khó nuốt, kèm theo đó là cảm giác không ngon miệng và giảm cân không có lý do. Khó nuốt là một triệu chứng điển hình của ung thư thực quản.

Ung thư thực quản cũng có thể được phát hiện khi đánh giá các triệu chứng như ợ nóng mãn tính, trào ngược hoặc chảy máu đường tiêu hóa. Bệnh nhân bị GERD lâu dài hoặc Barrett thực quản cần khám định kỳ, bởi đây là những yếu tố nguy cơ mắc bệnh ung thư thực quản.

Triển vọng điều trị 
Trước đây, tỷ lệ sống của bệnh ung thư thực quản khá thấp. Thậm chí, dù được chẩn đoán ung thư thực quản ở những giai đoạn đầu, chỉ có ít hơn 15-20% bệnh nhân có khả năng sống trên 5 năm.

Hiện nay, với sự phát triển của y học ung thư trên thế giới, bệnh ung thư thực quản có thể được phát hiện sớm hơn, kèm theo đó là sự tiến bộ từng bước trong các phương pháp điều trị ung thư, tỷ lệ sống 5 năm đã tăng thêm 50% so với trước kia. Ở những giai đoạn đầu, khi ung thư chưa lan rộng, tỷ lệ sống 5 năm đã tăng lên khoảng 39%

Trường hợp khi ung thư đã xâm lấn, lây lan đến hạch bạch huyết hoặc các mô gần đó, tỷ lệ sống 5 năm của người bệnh còn khoảng 21%. Còn khi ung thư thực quản đã có di căn xa, không quá 4% người bệnh có thể sống được 5 năm sau khi chẩn đoán.
Để hỗ trợ tốt nhất cho việc điều trị , Bệnh viện Ung bướu Hưng Việt đã đầu tư hệ thống trang thiết bị y khoa hiện đại, cơ sở vật chất tiện nghi, cùng với đội ngũ điều dưỡng được đào tạo bài bản. 
Địa chỉ: số 34 Đại Cồ Việt – Quận Hai Bà Trưng - Hà Nội

Email: bvubhungviet@gmail.com


Điện thoại: 04.6272.4444 - 04. 6250. 0707
Hotline: 0913.51.0707 - 0949.51.0707 - 0948.92.0707

Thứ Năm, 8 tháng 1, 2015

Chẩn đoán phát hiện ung thư thực quản.

Ung thư thực quản là khối u ác tính, chủ yếu xuất phát từ các tế bào biểu mô của thực quản. Đoạn 1/3 trên và 1/3 giữa hầu hết là ung thư biểu mô vảy nhạy cảm với tia xạ, hoá chất. Đoạn 1/3 dưới hay gặp ung thư biểu mô tuyến ít, nhạy cảm với tia xạ, hoá chất. Một số trường hợp là ung thư liên kết.
ung thu thuc quan
Đây là bệnh lý thường gặp ở độ tuổi trên 50 tuổi, tỷ lệ mắc bệnh ở nam và nữ là như nhau.
Một số nguyên nhân dẫn đến  bệnh ung thư thực quản như: hút thuốc lá và đặc biệt là uống rượu mạnh. Người nghiện thuốc lâu năm có nguy cơ mắc ung thư thực quản khá cao. Bên cạnh đó những người có thói quen ăn nóng, uống nóng cũng là mầm mống của căn bệnh này. Bên cạnh đó còn có một số nguyên nhân khác như ăn nhiều dưa muối, cá muối, người mắc bệnh niêm mạc thực quản…
Để chuẩn đoán lâm sàng bệnh ung thư thực quản cần chú ý những biểu hiện sau:
Nuốt nghẹn: ung thư thực quản thường gặp ở những người trên 50 tuổi. Nuốt nghẹn là triệu chứng thường gặp nhưng không đặc hiệu. Ban đầu người bệnh có cảm giác nuốt vướng sau xương ức, nghẹn mơ hồ nhưng nhận thấy tương đối rõ nếu nuốt thức ăn đặc, càng về sau mức độ càng tăng dần và nhận thấy tương đối rõ, nghẹn khi ăn và thường phải uống nước để trôi thức ăn.
Khi bệnh càng phát triển người bệnh sẽ cảm thấy khó nuốt ngay cả khi uống nước.
Trớ: Khi tác tế bào ung thư xâm chiếm thực quản sẽ gây ứ đọng thức ăn, nước bọt, dịch tiết của thực quản và sẽ bị trớ ra ngoài. Dịch trớ vào đường thở gây viêm đường hô hấp kéo dài.
Khi các tế bào ung thư càng lớn có thể gây ra nhiều ảnh hưởng khác như: đau xương ức, cảm giác đau mơ hồ, dai dẳng. Khi thanh quản bị các tế bào ung thư xâm chiếm sẽ khiến cho người bệnh khàn tiếng do viêm đường hô hấp trên và dần lạc hẳn giọng khi hạch di căn xâm lấn thần kinh quặt ngược.
Rò thực quản gây ho khạc và đau ngực liên tục. Đôi khi còn thấy hạch to ở hố thượng đòn ở cả hai bên.
Do nuốt nghẹn, cơ thể không hấp thụ được các chất dinh dưỡng cơ thể người bệnh sút cân liên tục, tinh thần mệt mỏi, da sạm, khô. Bệnh nhân nuốt nghẹn càng nhiều càng biểu hiện rõ tình trạng mất nước mạn tính, cơ thể suy kiệt.
Người bệnh ung thư thực quản thường phải đối mặt với vấn đề suy giảm thể trạng sức khoẻ nghiêm trọng do thiếu dinh dưỡng. Do đó, một trong những điều quan trọng nhất điều trị ung thư thực quản là phối hợp đảm bảo dinh dưỡng cho người bệnh.

Các yếu tố nguy cơ ung thư thực quản.

Ung thư thực quản là loại u ác tính thường xuất hiện từ thực quản vùng bụng, ngực, cổ, triệu chứng của ung thư thực quản có liên quan trực tiếp đến mức độ nặng nhẹ của bệnh, ảnh hưởng của ung thư thực quản khiến cho bệnh nhân khi nuốt thức ăn cảm thấy rất khó khăn, xuất hiện hiện tượng nghẹn, sặc,…Ung thư thực quản sẽ gây ra co thắt thực quản, do đó xuất hiện các hiện tượng như buồn nôn, đau, nôn mửa, sưng, tê...v..v..
Các yếu tố nguy cơ của ung thư thực quản
Nguyên nhân chính xác gây ung thư thực quản chưa được xác định rõ. Nhìn chung những  nguyên nhân gây ung thư thực quản có liên quan đến thói quen sống như hút thuốc, uống rượu, béo phì. Còn một hiện tượng khác là sự trào ngược của acid dạ dày lên thực quản. Tuy nhiên, theo các nghiên cứu thì tất cả các yếu tố dưới đây có thể làm tăng nguy cơ ung thư thực quản:
- Độ tuổi: Ung thư thực quản có nguy cơ xuất hiện nhiều hơn khi về gìà; Hầu hết những người bị ung thư thực quản là trên 60 tuổi.
- Giới tính: Ung thư thực quản thường gặp ở nam giới nhiều hơn ở nữ giới.
- Sử dụng thuốc lá: Hút thuốc lá điếu hoặc sử dụng thuốc lá sợi không khói là một trong những yếu tố nguy cơ chính gây ung thư thực quản.
- Uống rượu: Uống nhiều rượu hoặc uống rượu kéo dài là một yếu tố nguy cơ chủ yếu khác gây ung thư thực quản. Những người sử dụng cả rượu và thuốc lá có nguy cơ mắc ung thư thực quản đặc biệt cao. Các nhà khoa học cho rằng những chất này làm tăng tác dụng có hại của từng chất đơn độc.
- Bệnh thực quản Barret: Tình trạng bị kích thích kéo dài có thể làm tăng nguy cơ bị  ung thư thực quản. Mô ở đoạn cuối thực quản có thể bị kích thích nếu axít của dịch dạ dày thường xuyên "trào ngược" lên thực quản. Hiện tượng này gọi là trào ngược dạ dày-thực quản. Dần đân, tế bào ở phần thực quản bị kích thích có thể thay đổi và trở nên gìống với tế bào lót niêm mạc dạ dày. Tình trạng này, gọi là thực quản Barret, là một điều kiện tiền ung thư và có thể phát triển thành ung thư tế bào tuyến của thực quản.
- Các loại kích thích khác: Các nguyên nhân khác gây kích thích nghiêm trọng hoặc gây phá huỷ niêm mạc thực quản, như uống phải dung dịch kiềm mạnh hoặc các chất ăn mòn khác, có thể làm tăng nguy cơ bị ung thư thực quản.
- Tiền sử: Bệnh nhân bị mắc các loại  ung thư khác ở vùng đầu cổ có nguy cơ phát triển bị ung thư thứ hai ở vùng đâu cổ cao hơn, bao gồm cả ung thư thực quản.
Có bất kỳ yếu tố nào trong số kể trên đây đều làm tăng khả năng bị  ung thư thực quản. Tuy nhiên, hầu hết những người có một hoặc thậm chí có một vài yếu tố nguy cơ trên đây không bị mác căn bệnh này. Và hầu hết những người mác ung thư thực quản lại không có yếu tố nguy cơ nào trong số đã biết.

Các triệu chứng cơ bản của ung thư thực quản.

Ung thư thực quản giai đoạn đầu không có những biểu hiện triệu chứng rõ ràng, hoặc thỉnh thoảng mới xuất hiện các triệu chứng kích thích thần kinh nhẹ. Cùng với sự phát triển của bệnh, các triệu chứng bắt đầu càng tăng lên, chủ yếu có các biểu hiện như: cảm giác khác thường, nuốt khó và đau… Nhưng do các triệu chứng ung thư thực quản giai đoạn đầu còn nhẹ, dễ bị bỏ qua, dẫn đến thời gian điều trị bệnh bị trì hoãn.
Những triệu chứng thường gặp ở ung thư thực quản:
Nuốt nghẹn:
Triệu chứng ung thư thực quản- Lúc bệnh mới bắt đầu, tổ chức ung thư còn khu trú, biểu hiện bởi những rối loạn khi nuốt, nhất là với thức ăn đặc. Nghẹn có khi tăng lên, có khi giảm xuống đôi chút nhưng bao giờ cũng có, vì ngoài thương tổn thực thể do khối u, bệnh thường có kèm theo yếu tố viêm nhiễm, phù nề tại chỗ. Sau khoảng 2 tháng, triệu chứng nuốt nghẹn sẽ tăng lên dần và kéo dài, mới đầu chỉ thấy nuốt nghẹn với thức ăn đặc, về sau nghẹn cả với thức ăn lỏng như cháo, nước.
- Nuốt nghẹn thường hiện diện muộn trong tiền sử bệnh vì thực quản không có lớp thanh mạc nên cơ trơn giãn ra một cách dễ dàng. Kết quả là khi dấu hiệu nuốt nghẹn đã rõ để bệnh nhân đi khám bệnh thì có trên 60% số trường hợp đã bị ung thư giai đoạn muộn.
- Một vài trường hợp ung thư thực quản không có triệu chứng nuốt nghẹn bởi vì khối u tiên phát chỉ xâm lấn vào những cấu trúc lân cận mà không xâm lấn vào lòng thực quản. Khi khối u xâm lấn vào khí-phế quản bệnh nhân có thể thay đổi giọng nói và ho dữ dội.
Nôn:
Thường thấy ở giai đoạn muộn, khi khối u tăng kích thước làm chít hẹp lòng thực quản. Nôn xuất hiện khi biểu hiện nuốt nghẹn đã rõ rệt. Nôn có thể xảy ra trong bữa ăn ngay sau khi ăn. Chất nôn là thức ăn vừa mới ăn vào còn nguyên cả hạt cơm, hạt cháo không có lẫn dịch vị. Có thể có vài tia máu nhỏ trong chất nôn.
Tiết nhiều nước bọt:
Khi bệnh nhân nuốt nghẹn nhiều thì nước bọt hầu như không xuống được dạ dày. Vì nước bọt tiết nhiều mà không nuốt được nên bệnh nhân luôn phải nhổ nước bọt.
Triệu chứng thực thể:
Khi bệnh ở giai đoạn sớm thì thăm khám thực thể thường không phát hiện gì. Nhưng khi bệnh ở giai đoạn muộn, lúc đã có di căn thì có thể sờ thấy hạch thượng đòn, hạch vùng trên rốn, gan lổn nhổn, di căn xương...
Triệu chứng toàn thân:
Trong khi triệu chứng thực thể rất nghèo nàn thì triệu chứng toàn thân lại rất rõ rệt: người bệnh sút cân nhanh chóng, trong vòng vài ba tháng có thể sút tới 10-15kg cân nặng. Bệnh nhân hốc hác, mất nước, da khô và nhăn nheo trông rất dễ nhận biết. Đôi khi có tràn dịch màng phổi, nổi hạch cổ, gan to, bụng báng, hội chứng Horner (đồng tử co nhỏ, sụp mi mắt và giảm tiết mồ hôi). Lý do của gầy sút ngoài do ung thư còn do không ăn uống được.
Ngoài những triệu chứng trên, những bệnh nhân ung thư thực quản ở giai đoạn muộn người ta cũng ghi nhận một số triệu chứng cơ năng khác như: ho nhiều, cơn nấc, đau tức ngực, đau sau xương ức (thể hiện xâm lấn của khối u vào vùng cột sống), hơi thở có mùi hôi thối hoặc các triệu chứng của biến chứng như sặc, khàn tiếng...
Có thể tóm lược lại một số triệu chứng và dấu hiệu cơ bản như sau:
- Khó nuốt hoặc nuốt đau
- Sút cân trầm trọng
- Đau họng hoặc lưng, đau ở sau xương ức hoặc gìữa xương bả vai
- Khàn gìọng hoặc ho kéo dài
- Nôn
- Ho ra máu.
Nếu phát hiện có những biểu hiện triệu chứng nghi ngờ bệnh ung thư thực quản, cần phải đến các bệnh viện chuyên khoa kịp thời để tiến hành kiểm tra. Những triệu chứng này có thể do ung thư thực quản hoặc do các bệnh khác gây ra. Điều quan trọng là phải đến bác sĩ kiểm tra.

Chuẩn đoán phát hiện ung thư thực quản sớm.

Ung thư thực quản được chẩn đoán và phát hiện sớm sẽ tốt cho việc điều trị bệnh. Đối với chẩn đoán ung thư thực quản, bệnh viện Ung Bướu Hưng Việt, ngoài việc cung cấp thiết bị kỹ thuật tiên tiến, còn có các chuyên gia có kinh nghiệm, giúp nâng cao tỷ lệ chẩn đoán và hiệu quả điều trị bệnh. Nếu bạn có những triệu chứng của ung thư thực quản xuất hiện đáng ngờ, hoặc nếu bạn thuộc nhóm người có nguy cơ cao mắc bệnh ung thư thực quản cao, hãy nói cho bác sĩ khám cho bạn. Các bác sĩ sẽ dựa vào các triệu chứng, thói quen sống của bạn, và lịch sử gia đình để có thể đưa ra một quy trình kiểm tra hợp lý, giúp phát hiện sớm bệnh. Phương pháp chẩn đoán ung thư thực quản chủ yếu như sau:
Các phương pháp chẩn đoán ung thư thực quản:
- Xét nghiệm máu: xét nghiệm máu là một phương pháp tầm soát  ung thư thực quản đơn giản nhất, kết quả của phương pháp này tương đối nhạy bén và chuẩn xác. Nếu xuất hiện các triệu chứng nhẹ của việc nuốt khó, cảm giác nghẹn, vướng trong cổ họng, thì xét nghiệm máu là lựa chọn đầu tiên cho việc chẩn đoán.
- Xét nghiệm tế bào thực quản: phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, không đau, tỷ lệ chẩn đoán dương tính cao. Nhóm người có nguy cơ ung thư cao thông qua phương pháp kiểm tra này phát hiện bệnh ung thư thực quản sớm, cung cấp đầu mối quan trọng cho việc điều trị bệnh sớm. Do đó, kiểm tra một khi phát hiện thấy bất thường cần tiếp tục kiểm tra kỹ càng hơn hoặc làm theo chỉ định của bác sỹ.
- Uống sun-fát ba-ri kiểm tra hình ảnh thực quản: bao gồm chụp X-quang và hình ảnh 2 tầng, đây là phương pháp kiểm tra thường dùng nhất trong chẩn đoán lâm sàng ung thư thực quản. Có thể hiển thị kích thước vùng bệnh chuyển biến và bên trong thực quản cùng các bộ phận có liên quan gần đó.
- Nội soi thực quản: Có thể sử dụng để xác định vị trí khối u, kích thước, phân loại và sinh thiết. Có những bệnh nhân ung thư triệu chứng giai đoạn muộn sau khi kiểm tra nội soi, dựa vào phân loại và kết quả chẩn đoán có thể đưa ra phương án điều trị.
Nội soi chẩn đoán ung thư thực quản
- Chụp CT: Có thể dùng để kiểm tra xâm lấn của tế bào ung thư đến các vùng khác. Hiện đây là phương pháp chủ yếu để chia giai đoạn và đưa phương án điều trị cho bệnh nhân ung thư thực quản.
- Chụp PET-CT: PET-CT là loại chẩn đoán hình ảnh cắt ngang nhiều lớp và chức năng hình ảnh tổng hợp chính xác cho chẩn đoán ung thư thực quản, có vai trò quan trọng trong chẩn đoán, phân giai đoạn, và đưa ra phác đồ điều trị phù hợp cho bệnh nhân ung thư thực quản.
- Sinh thiết: Nếu phát hiện ra vùng không bình thường, bác sĩ có thể lấy một mẫu mô qua ống nội soi để xem dưới kính hiển vi. Quá trình này được gọi là sinh thiết. Sinh thiết có thể chi ra ung thư, những thay đổi ở mô có thể dẫn đến ung thư hoặc những tình trạng bệnh khác.
Phân giai đoạn bệnh
Nếu chẩn đoán là ung thư thực quản thì bác sĩ cần biết giai đoạn (hoặc phạm vi) của bệnh. Phân giai đoạn là một quá trình tỷ mi và cẩn thận để tìm hiểu xem ung thư đã lan hay chưa và nếu đã lan thì tớibộ phận nào của cơ thể. Biết được giai đoạn của bệnh giúp bác sĩ lập kế hoạch điều trị. Có bốn giai đoạn ung thư thực quản:
- Giai đoạn I. Ung thư mới chi ở lớp tế bào ngoài cùng của niêm mạc thực quản.
- Giai đoạn II. Ung thư liên quan tới lớp tế bào sâu hơn trong niêm mạc thực quản hoặc nó đã lan tới các hạch lân cận. Ung thư chưa lan tới các bộ phận khác của cơ thể.
- Giai đoạn III. Ung thư đã xâm lấn sâu hơn vào thành thực quản hoặc đã lan tới mô hoặc các hạch gần thực quản. Nó chưa lan tới các bộ phận khác của cơ thể.
- Giai đoạn IV. Ung thư đã lan tới các bộ phận khác của cơ thể.  Ung thư thực quản có thể lan tới tất cả các bộ phận khác trong cơ thể, bao gồm gan, phổi, não bộ và xương.
Một số xét nghiệm được sử dụng để xác định ung thư đã lan hay chưa bao gồm:
- Chụp cắt lớp vi tính. Một máy vi tính được nối với một máy chụp X quang sẽ cho hàng loạt ảnh chi tiết các bộ phận bên trong cơ thể.
- Xạ hình xương. Kỹ thuật này làm hiện hình ảnh xương trên màn hình vi tính hoặc trên phim, có thể cho biết ung thư đã lan tới xương hay chưa. Một lượng chất phóng xạ nhỏ được tiêm vào tĩnh mạch; nó di chuyển qua mạch máu và tụ lại ở trong xương, đặc biệt là ở những vùng xương phát triển không bình thường. Một dụng cụ được gọi là máy xạ hình đo mức độ phóng xạ trong những vùng này.
- Nội soi phế quản. Bác sĩ đặt ống nội soi phế quản (một Ống nhỏ có nguồn sáng) qua mồm hoặc mũi và luồn xuống khí quản để quan sát đường hô hấp.
Chuyên gia ung thư của bệnh viện ung bướu Hưng Việt lưu ý rằng, một khi kiểm tra phát hiện bệnh ung thư thực quản cũng không nên hoang mang lo sợ, điều trị tích cực là điều quan trọng nhất để giúp hồi phục sức khỏe. Hiện nay, điều trị ung thư thực quản đã đạt được những phát triển mới thành công hơn. Ngoài phương pháp phẫu thuật, hóa xạ trị truyền thống còn có thể lựa chọn các phương pháp vết thương nhỏ tiên tiến như miễn dịch tế bào, can thiệp cục bộ.

Phương pháp điều trị ung thư thực quản.

Việc điều trị ung thư thực quản có thể bao gồm phẫu thuật, xạ trị, hóa trị…những phương pháp này ảnh hưởng đến sức khỏe của bệnh nhân khá lớn, hơn nữa còn dễ để sót lại các tế bào ung thư dẫn đến nguy cơ tái phát về sau. Ung thư thực quản giai đoạn muộn có thể được điều trị bằng phương pháp phẫu thuật nội soi cắt bỏ hoàn toàn thực quản và lấy vạt dạ dày tự thân tạo hình thực quản mới cho một bệnh nhân.
Phương án điều trị ung thư thực quản của bệnh viện ung bướu Hưng Việt cần căn cứ vào bệnh sử, biến chứng vị trí, kích thước khối u, phạm vi di căn,…của từng bệnh nhân để đưa ra quyết định, chỉ có những pháp đồ có tính cá nhân cho mỗi bệnh nhân với các liệu pháp điều trị khác nhau và phù hợp thì việc điều trị mới mong đạt được hiệu quả.
Điều trị ung thư thực quản
Nhiều phương pháp điều trị khác nhau và các phương pháp kết hợp thường được sử dụng để điều trị ung thư hoặc là để cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân bằng cách làm giảm triệu chứng.
Điều trị ung thư thực quản
Phẫu thuật là phương pháp điều trị ung thư thực quản phổ biến nhất. Thông thường, bác sĩ phẫu thuật cắt bỏ khối u cùng với tất cả hoặc một phần thực quản, các hạch lân cận và các mô khác trong vùng phẫu thuật (phẫu thuật cắt bỏ thực quản). Bác sĩ phẫu thuật nối các phần lành còn lại của thực quản với dạ dày để bệnh nhân vẫn có thế nuốt được. Đôi khi, một ống bằng nhựa hoặc một phần ruột được sử dụng để nối. Bác sĩ phẫu thuật còn có thể nới rộng vị trí dạ dày mở vào ruột non để cho phép thức ăn trong dạ dày có thể chuyển vào ruột non dễ dàng hơn. Đôi khi, phẫu thuật được tiến hành sau khi kết thúc một phương pháp điều trị khác.

Liệu pháp chiếu xạ là phương pháp sử dụng những tia có năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư. Liệu pháp chiếu xạ chi ảnh hưởng tới tế bào ung thư ở vùng chiếu xạ. Phóng xạ có thể xuất phát từ một máy bên ngoài cơ thể (chiếu xạ ngoài) hoặc vật liệu phát xạ đặt ở bên trong hoặc gần khối u (chiếu xạ trong). Một ống nhựa có thể được đặt vào trong thực quản để gìữ cho thực quàn mở trong khi chiếu xạ. Thủ thuật này được gọi là đặt ống trong lòng thực quản và nong. Liệu pháp chiếu xạ có thể được sử dụng đơn độc hoặc kết hợp với hóa trị liệu để làm phương pháp điều trị ban đầu thay cho phẫu thuật, đặc biệt là khi kích thước hoặc vị trí của khối u khiến cho việc phẫu thuật khó khăn. Bác sĩ có thể kết hợp chiếu xạ với hóa trị liệu để làm co khối u trước khi phẫu thuật. Thậm chi khi khối u không thể cát bỏ hoàn toàn bằng phẫu thuật hoặc không thể bị phá huỷ hoàn toàn bằng chiếu xạ thì chiếu xạ thường có thể giúp giảm đau và giúp bệnh nhân dễ nuốt hơn.

Hóa trị liệu là phương pháp sử dụng thuốc điều trị ung thư để diệt tế bào ung thư. Thuốc điều trị ung thư thực quản đi vào tất cả các bộ phận trong cơ thể. Thuốc thường được tiêm tĩnh mạch. Hóa trị liệu có thể kết hợp với xạ trị như là một phương pháp điều trị ban đầu (thay cho phẫu thuật) để làm co khối u trước khi phẫu thuật.

Laser liệu pháp là phương pháp sử dụng tia sáng có cường độ cao để tiêu diệt tế bào ung thư. Tia laser chi ảnh hưởng tới tế bào trong vùng được chiếu. Bác sĩ có thể sử dụng tia laser để phá huỷ mô ung thư và làm giảm sự tắc nghẽn thực quản khi không thể cắt bỏ ung thư bâng phẫu thuật. Giảm sự tắc nghẽn có thể giúp giảm triệu chứng, đặc biệt là nuốt.
Liệu pháp quang động học là một dạng của laser liệu pháp, có sử dụng các loại thuốc được tế bào ung thư hấp thụ; khi tiếp xúc với một tia sáng đặc biệt, thuốc sẽ trở nên có hoạt tính và phá huỷ tế bào ung thư. Bác sĩ có thể sử dụng liệu pháp quang động học để làm giảm các triệu chứng của ung thư thực quản như hiện tượng khó nuốt.
Khám định kỳ theo dõi sau điều trị ung thư thực quản
Theo dõi sau khi điều trị ung thư thực quản đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo phát hiện ra tất cả những thay đổi về sức khỏe. Nếu ung thư tái phát trở lại hoặc phát triển hoặc một ung thư mới xuất hiện thì nó có thể được điều trị sớm. Thăm khám và xét nghiệm kiểm tra có thể bao gồm khám lâm sàng, chụp X quang hoặc những xét nghiệm cận lâm sàng. Gìữa các đợt khám định kỳ, bệnh nhân nên thông báo tất cả các vấn đề sức khỏe cho bác sĩ của họ ngay khi chúng xuất hiện.
Khoảng hơn 10 năm trở về trước, những trường hợp  ung thư thực quản giai đoạn muộn hầu như không còn hy vọng chữa trị. Sau đó, với những tiến bộ của ngoại khoa những bệnh nhân này được chỉ định mổ mở với đường rạch khá dài từ 35-37cm để các phẫu thuật viên có thể cắt toàn bộ thực quản. Vật liệu để tạo hình là ruột non hoặc ống đại tràng. Tuy nhiên phẫu thuật mở với đường can thiệp rộng khiến bệnh nhân mất nhiều máu, hơn nữa đây lại là vùng tim phổi nên dễ gây ra các biến chứng trong và sau mổ nguy hiểm đến tính mạng người bệnh. Vật liệu tạo hình thực quản bằng ruột non phải làm vi phẫu, nối các mạch máu nhỏ do đó sẽ phải kéo dài thời gian cuộc mổ và nguy cơ hoại tử vì thiếu máu nuôi dưỡng do các vi mạch rất khó được đảm bảo. Việc dùng ống đại tràng lại to hơn thực quản nên không đảm bảo chức năng sinh lý và bệnh nhân có mùi khi giao tiếp...
Những năm gần đây với sự phát triển mạnh mẽ của phẫu thuật nội soi, chỉ định cắt bỏ thực quản  ung thư và nạo vét hạch di căn được tiến hành bằng phẫu thuật nội soi. Bắt kịp với những tiến bộ đó, bệnh viện Ung Bướu Hưng Việt ứng dụng kỹ thuật này trong điều trị cho những bệnh nhân ung thư thực quản giai đoạn muộn. Với kỹ thuật này, bệnh nhân giảm rất nhiều các tai biến nguy hiểm, ít chảy máu, thời gian lưu viện ngắn hơn, sớm bình phục. Việc thực hiện thuần thục mổ nội soi cho phép các bác sĩ tiến hành nạo vét hết các hạch di căn. Sau cắt bỏ thực quản, bác sĩ tiến hành tạo hình thực quản mới bằng chính dạ dày của bệnh nhân. Chất liệu này có nhiều ưu điểm bởi cho phép tạo hình tương đương với độ dài rộng của thực quản đã bị cắt bỏ; mạch nuôi tốt và khắc phục được những nhược điểm của việc thay bằng ruột non hay ống đại tràng. Sau khi được phẫu thuật, bệnh nhân nhanh chóng hồi phục sức khỏe và tiếp tục tiến hành các biện pháp điều trị ung thư bằng hóa chất, xạ trị…

Những điều cần biết về ung thư thực quản.

Thực quản là một ống dài, mềm mại chạy từ họng xuống dạ dày. Thực quản chuyển thức ăn đến dạ dày để được tiêu hóa. Ung thư thực quản phát xuất từ các tế bào lót mặt trong của thực quản, có thể mọc bất cứ chỗ nào của ống này. Tỷ lệ đàn ông mắc bệnh này nhiều gấp bội so với phụ nữ, độ tuổi thường gặp là 45 - 70 tuổi.
Ung thu thuc quan
Ung thư thực quản là khối u ác tính từ các tế bào ung thư ở thực quản.  Ung thư thực quản được chia thành hai loại chính: ung thư biểu mô tế bào vẩy và ung thư biểu mô tế bào tuyến, tuỳ thuộc vào loại tế bào ác tính.
Ung thư biểu mô tế bào vẩy xuất phát từ tế bào vẩy lót niêm mạc thực quản. Loại ung thư này thường xuất hiện ở phần trên hoặc phần gìữa thực quản. Ung thư biểu mô tế bào tuyến thường phát triển trong mô tuyến ở phần dưới thực quản.
Nếu ung thư lan ra ngoài thực quản, đầu tiên nó thường lan tới hạch. Ung thư thực quản cũng có thể lan tới hầu như bất kỳ phần nào của cơ thể, như gan, phổi, não bộ và xương.
Tỷ lệ mắc bệnh ung thư thực quản chiếm 2% trên tổng số tất cả các căn bệnh ung thư, mỗi năm trên thế giới ước tính có đến 300 nghìn người chết do ung thư thực quản, độ tuổi càng cao thì tỷ lệ mắc ung thư thực quản càng tăng cao. Trước 35 tuổi, tỷ lệ mắc ung thư thực quản rất thấp, sau 35 tuổi thì tỷ lệ phát bệnh tăng theo sự tăng dần về tuổi tác, độ tuổi từ 60 – 69 là nhóm có nguy cơ mắc ung thư thực quản cao nhất.
Ung thư thực quản nguy hiểm như thế nào?
Về lâm sàng, khi bệnh nhân ung thư thực quản cảm thấy ăn bị nghẹn, không nên cố nuốt, nếu không nó sẽ kích thích các tế bào ung thư và gây ra chảy máu, di căn và đau đớn...Bệnh nhân bị nặng sẽ cảm thấy đau ở vùng ngực và lưng kèm theo sốt, nhịp tim tăng nhanh, tăng bạch cầu… Một số bệnh nhân ung thư thực quản có thể bị thủng thực quản, do đó dần dần phát triển đến giai đoạn không thể ăn, giảm cân nhanh chóng, thể chất suy giảm, dẫn đến mệt mỏi, khó khăn trong vận động, thiếu máu, dần dần không thể tự chăm sóc bản thân, những nguy hiểm này đều gây ra do ung thư thực quản.
Nhiều bệnh nhân ung thư thực quản đến viện khi bệnh đã ở giai đoạn muộn. Ung thư thực quản là bệnh lý ác tính thường gặp ở người trên 50 tuổi, nam nhiều hơn nữ. Các dấu hiệu sớm của bệnh ít được quan tâm, khi có các dấu hiệu nuốt khó, nuốt vướng, tức nặng, đau âm ỉ đè nén sau xương ức... thì bệnh thường đa ở giai đoạn muộn. Về sau, tùy theo ảnh hưởng của khối u tới các cơ quan lân cận có thể gặp thêm các triệu chứng khó thở, khàn giọng, ho khan, khạc đờm; đau thượng vị, buồn nôn, nôn, nấc...
Khối u ảnh hưởng tới toàn thân làm bệnh nhân sốt, mệt mỏi, xanh xao, ăn uống kém, gầy sút cân rõ rệt. Thậm chí khi được phát hiện muộn đa có nhiều biến chứng như viêm thủng thực quản vào trung thất gây khó thở đột ngột, tràn khí dưới da; rò thực quản vào khí phế quản làm thức ăn rơi vào đường hô hấp gây viêm phổi, áp-xe phổi... thậm chí tử vong. Nội soi cắt, vét hạch ung thư thực quản rồi tạo hình bằng dạ dày tự thân là kỹ thuật điều trị nhiều ưu điểm, giảm các tai biến nguy hiểm, bệnh nhân sớm bình phục và nhanh chóng đảm bảo các chức năng sinh lý của thực quản, người bệnh có được cảm giác ăn uống. Tuy nhiên đây là một kỹ thuật khó, bác sĩ cần có tay nghề tốt mới có thể lấy toàn bộ thực quản và các khối u di căn trong lồng ngực qua nội soi. Chất liệu dạ dày tự thân phải là dạ dày lành, chưa di căn.
Phương pháp điều trị ung thư thực quản thường thấy bao gồm phẫu thuật, xạ trị, hóa trị…, những phương pháp này ảnh hưởng đến sức khỏe của bệnh nhân khá lớn, hơn nữa còn dễ để sót lại các tế bào ung thư dẫn đến nguy cơ tái phát về sau. Phương án điều trị ung thư thực quản của bệnh viện ung bướu Hưng Việt cần căn cứ vào bệnh sử, biến chứng vị trí, kích thước khối u, phạm vi di căn,…của từng bệnh nhân để đưa ra quyết định, chỉ có những pháp đồ có tính cá nhân cho mỗi bệnh nhân với các liệu pháp điều trị khác nhau và phù hợp thì việc điều trị mới mong đạt được hiệu quả.