ung thu gan

Hiển thị các bài đăng có nhãn ung thu gan. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ung thu gan. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 5 tháng 3, 2015

Các xét nghiệm chẩn đoán ung thư gan

Các phương pháp xét nghiệm bệnh ung thư gan
Ung thư tế bào gan nguyên phát (HCC) bắt đầu xảy ra từ tế bào gan. Người ta chưa biết chính xác nguyên nhân HCC nhưng viêm gan do siêu vi mãn tính, xơ gan là yếu tố nguy cơ HCC. Xơ gan chiếm 80% truờng hợp HCC. Ung thư gan là căn bệnh nguy hiểm, gây tử vọng cao nên việc phát hiện sớm và kiếm soát nó là một yếu tố rất quan trọng.

Các phương pháp xét nghiệm bệnh ung thư gan

1. Nồng độ AFP trong máu
AFP là một loại protein trong hòan cảnh bình thường được tiết ra từ tế bào gan chưa trưởng thành của thai nhi. Do đó, trong điều kiện bình thường AFP trong máu có thể cao ở trẻ sơ sinh hoặc phụ nữ có thai. Trong điều kiện bệnh lý, AFP được tiết bởi tế bào ung thư gan, ung thư tinh hoàn hoặc ung thư buồng trứng,… hoặc tề bào gan tái sinh (trong viêm gan mạn).
Nồng độ bình thường phải <10 ng/ml.
<200 ng/ml là tăng nhẹ: có nguy cơ cao sẽ bị ung thư tế bào gan.
<500 ng/ml: tăng vừa, xuất hiện ở những người ung thư gan hoặc có tình trạng viêm gan mãn tính.
>500 ng/ml tăng rất cao: 99% là ung thư tế bào gan, hoặc ung thư ở buồng trứng hay tinh hoàn.
Độ tin cậy của xét nghiệm rất cao 90%: tức là nếu xét nghiệm là dương tính (AFP tăng lên) thì 90% bệnh nhân đó mắc bệnh ung thư tế bào gan.
Nhưng độ chính xác của xét nghiệm chỉ đạt từ 40%, tức là trong số bệnh nhân bị ung thư tế bào gan, chỉ có 40% có kết quả dương tính. Nói cách khác ở người có kết quả xét nghiệm âm tính, không thể xác định người đó không mắc bệnh.
Bên cạnh đó, đa số những người được phát hiện có AFP cao trong máu lại đang ở trong giai đoạn sau của bệnh. Do đó, AFP riêng lẻ chưa bao giờ được coi là một công cụ tầm soát hữu hiệu.
2. Siêu âm chẩn đoán ung thư gan
Cùng với xét nghiệm AFP, siêu âm là 1 xét nghhiệm thông thường nhất được sử dụng để phát hiện ung thư gan. Độ nhạy cảm của xét nghiệm này là 68%-87% (tức là hễ 100 người có khối u trong gan được siêu âm thì có 68-87 người được phát hiện).

Còn mức độ dương tính giả là 28%-82% (tức là hễ trong 100 người được cho là thấy khối u ở gan trên siêu âm thì có thể có từ 28-82 người thực tế không phải mắc ung thư gan. Cho thấy mức độ tin cậy của xét nghiệm này ở mức trung bình). Đa số những trường hợp dương tính giả là do trong gan của người đó có những nốt tân sinh do quá trình xơ gan, và những người này cũng nên được giới thiệu đến chuyên khoa để có những chẩn đoán chính xác hơn (xơ gan cũng là một bệnh nghiêm trọng và có tỉ lệ tử vong không kém gì ung thư).
Việc kết hợp siêu âm gan va đo nồng độ AFP trong máu tối ưu hơn việc thực hiện riêng lẻ các xét nghiệm này trong phác đồ tầm soát ung thư gan.
3. Xét nghiệm khác
Chức năng gan: xét nghiệm này được dùng nhiều trong chẩn đóan các bệnh ở gan như viêm gan siêu vi, xơ gan (vì toàn bộ lá gan bi ảnh hưởng trong các bệnh này) hơn là được sử dung trong chẩn đoán ung thư gan.
Tuy nhiên, nếu kết quả cho thấy có sự giảm Albumin/máu (một chất protein trong máu do gan sản xuất, chất này bị giảm chứng tỏ chức năng gan đã bị tổn thương), cùng với sự tăng của Alkaline Phosphatase, bệnh nhân đó nên được làm những xét nghiệm khác để xác định thêm.

Làm gì khi phát hiện bệnh ung thư gan?

Khi không may phát hiện mình bị ung thư gan, người bệnh cần phải tuân thủ nghiêm ngặt theo liệu pháp điều trị của bác sĩ để có thể đạt hiệu quả cao nhất trong điều trị. Người bệnh cần có tâm lý thoải mái, tin tưởng vào phác đồ điều trị, đồng thời giữ gìn chế độ ăn uống hợp lý để góp phần giữ gìn sức khỏe tốt hơn và ngăn ngừa các biến chứng có thể xảy ra.

Các triệu chứng của ung thư gan giai đoạn đầu

Ung thư gan là loại khối u ác tính hình thành từ các tế bào gan. Tại Việt Nam, ung thư gan đứng hàng thứ ba trong các loại ung thư phổ biến nhất. Ung thư gan cần được phát hiện sớm để được điều trị kịp thời.

Vậy làm thế nào để biết mình đã bị ung thư gan? Ung thư gan giai đoạn đầu có những triệu chứng gì? Hôm nay các bác sỹ phòng khám 12 Kim Mã sẽ khái quát những triệu chứng giai đoạn đầu của bệnh ung thư gan để các bạn nắm rõ được các triệu chứng và sớm điều trị kịp thời.
Tuy ung thư gan giai đoạn đầu không có triệu chứng rõ rệt nhưng cũng có một số biểu hiện dưới đây:
– Gầy đi: đây là một trong những hiện tượng thường thấy nhất của ung thư gan giai đoạn đầu, gan của bệnh nhân do bị tế bào ung thư tấn công, tạo thành ăn uống không ngon miệng, bụng trướng, lao lực, ngấy đồ dầu mỡ, dinh dưỡng không tốt, nên bị gầy đi là điều thường thấy.
- Khó chịu vùng gan: bệnh nhân thường cảm thấy khó chịu nhẹ ở vùng gan, xuất hiện những cơn đau, có lúc có thể là đau vai phía bên phải, cũng có một số bệnh nhân có hiện tượng gan to, có thể sờ thấy được.
- Vàng da, xuất hiện sao mạch (các vết đỏ hình nhện): biểu hiện khá rõ, cũng là dấu hiệu phát bệnh của ung thư gan giai đoạn đầu.
- Các triệu chứng ung thư gan khác: như phù nước, chảy máu mũi, cháy máu chân răng,lách to lúc này bệnh tình của bệnh nhân đã chuyển sang xơ gan.
Những bệnh nhân ung thư gan giai đoạn đầu tiên không nên hoàn toàn mất hy vọng. Nhất định phải lạc quan, các số liệu lâm sàng phát hiện ra rằng: tích cực điều trị, duy trì tâm lý ổn định thì trên cơ bản bệnh tình sẽ có tiến triển tốt. Điều này cần bệnh nhân phải tạo cho mình một cuộc sống lành mạnh, tập thói quen ngủ sớm dậy sớm, đi khám định kỳ, uống nhiều nước đun sôi, phối hợp với điều trị của bác sĩ.

Ung thư gan có thể phòng ngừa

Lá gan quý vô cùng, nó đảm trách khoảng 500 công việc. Máu rời khỏi bao tử và ruột đều chảy qua gan. Gan chế biến các chất bổ dưỡng và các loại thuốc từ dòng máu này thành các dạng dễ dùng cho cơ thể.
Việt Nam là vùng có tỷ lệ người mang virut viêm gan B rất cao, 10-20% dân số. Nếu người mẹ mang thai nhiễm virut viêm gan B thì có đến 90% sẽ truyền bệnh sang con. Viêm gan B cũng là một trong những nguyên nhân chính gây nên bệnh ung thư gan. Vậy phòng ngừa viêm gan B và ung thư bằng cách nào là hiệu quả nhất?

Phòng ngừa ung thư gan bằng cách tránh xa virus viêm gan HBV và xử lý đúng cách với viêm gan do virus.
Hiệu quả nhất là tiêm chủng, vaccin giúp tránh nguy cơ nhiễm bệnh khoảng 90% cho trẻ em và người lớn. Trẻ em nên được tiêm chủng thật sớm, từ lúc mới sinh cho tới 1 tuổi. Điều này đặc biệt quan trọng vì hầu hết trẻ sơ sinh bị nhiễm virut viêm gan B từ mẹ khi sinh sẽ có 90% nguy cơ trở thành bệnh mạn tính và khoảng 25% trong số đó sẽ chết vì ung thư gan và xơ gan. Tiêm vaccin viêm gan B trong vòng 24 giờ đầu sau sinh có hiệu quả bảo vệ phòng lây truyền từ mẹ sang con từ 80-85%. Nếu trẻ tiêm vaccin viêm gan B muộn sau khi sinh thì việc phòng tránh lây truyền bệnh từ mẹ sang con sẽ bị giảm, cụ thể nếu tiêm vaccin viêm gan B vào thời điểm 7 ngày sau khi sinh, khả năng phòng lây nhiễm từ mẹ sang con chỉ đạt 50-57%.
Trước khi được tiêm chủng, trẻ cần được cán bộ y tế thăm khám trước. Trẻ được tiêm vaccin viêm gan B trong vòng 24 giờ sau khi sinh khi đã bú tốt. Những trẻ đẻ non, cân nặng thấp, trẻ bị đẻ khó, mẹ bị sốt trước, saukhi sinh, nước ối bẩn, con bị ngạt, thai già tháng, trẻ dị tật… cần được thăm khám cẩn thận để tránh các trường hợp trùng hợp ngẫu nhiên. Đối với những trẻ đang bị ốm, sốt, mắc các bệnh nhiễm khuẩn cấp tính thì cần được hoãn tiêm.
Hiện nay đã có vài loại thuốc trị hiệu quả HBV, người bệnh cần tuân thủ triệt để theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa. Hãy bảo vệ con bạn khỏi viêm gan B và ung thư gan ngay bây giờ bằng cách tiêm phòng vacxin cho các bé nhé.

Thứ Tư, 4 tháng 3, 2015

Theo dõi sau điều trị ung thư gan

Theo dõi sau điều trị ung thư gan là gì?
Bệnh nhân được khuyên nên theo dõi với bác sĩ cho xét nghiệm và thăm quan. Bệnh nhân có bệnh gan mãn tính nên tránh uống rượu và bất kỳ loại thuốc có thể gây tổn hại cho gan. Bệnh nhân với ghép gan sẽ cần dùng loại thuốc antirejection cho phần còn lại của cuộc sống của họ để ngăn chặn cơ thể của họ từ chối gan mới.

Tiên lượng của bệnh ung thư gan là gì? Tỷ lệ sống sót cho bệnh ung thư gan là gì?
Tiên lượng ung thư gan phụ thuộc vào nhiều yếu tố như kích thước của ung thư gan, số tổn thương, sự hiện diện của lan ngoài gan, sức khỏe của các mô gan xung quanh, và sức khỏe chung của bệnh nhân.
Tỷ lệ sống sót sau năm năm chung cho tất cả các giai đoạn của ung thư gan là 15%.Một trong những lý do cho tỷ lệ sống thấp này là nhiều người bị ung thư gan cũng có điều kiện y tế cơ bản khác như xơ gan. Tuy nhiên, tỷ lệ sống sót sau năm năm có thể khác nhau tùy thuộc vào các bệnh ung thư gan đã lan rộng bao nhiêu.
Nếu ung thư gan được bản địa hóa (giới hạn trong gan), tỷ lệ sống sót sau năm năm là 28%. Nếu ung thư gan là khu vực (đã phát triển thành các cơ quan lân cận), tỷ lệ sống sót sau năm năm là 7%. Khi bệnh ung thư gan là xa (lây lan đến các cơ quan xa hoặc mô), tỷ lệ sống sót sau năm năm là thấp nhất là hai năm.
Tỷ lệ sống cũng có thể bị ảnh hưởng bởi các phương pháp điều trị có sẵn.Ung thư gan có thể được phẫu thuật cắt bỏ có một năm năm tỷ lệ sống được cải thiện hơn 50%. Khi bị bắt trong những giai đoạn đầu, và gan được cấy ghép, tỷ lệ sống sót sau năm năm có thể cao đến 70%.

Thế nào là điều trị ung thư gan?

Làm thế nào là ung thư gan giai đoạn?
Theo Hiệp hội Ung thư Mỹ, "Các giai đoạn của ung thư là một mô tả về cách rộng rãi nó được. Các giai đoạn của ung thư gan là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong việc lựa chọn điều trị. Một hệ thống dàn dựng là một cách thức chuẩn cho việc chăm sóc ung thư nhóm để tổng hợp thông tin về cách xa một ung thư đã lan rộng. Các bác sĩ sử dụng hệ thống dàn để có được một ý tưởng về tiên lượng của bệnh nhân  và để giúp xác định điều trị thích hợp nhất. Có một số hệ thống trung gian cho các bệnh ung thư gan, và không phải tất cả các bác sĩ sử dụng cùng một hệ thống. "
Sinh thiết gan cũng như nghiên cứu hình ảnh giúp đỡ trong việc phân loại bệnh ung thư gan theo Ủy ban Mỹ chung về Ung thư (AJCC) hệ thống TNM, Barcelona Clinic ung thư gan (BCLC) hệ thống dàn dựng, các ung thư của các chương trình hệ thống gan Ý (CLIP), hoặc hệ thống Okuda.

Điều trị ung thư gan là gì?
Việc điều trị được lựa chọn phụ thuộc vào loại ung thư đã lan rộng bao nhiêu và sức khỏe chung của gan. Ví dụ, mức độ xơ gan (cirrhosis) của gan có thể xác định các lựa chọn điều trị cho các bệnh ung thư. Tương tự như vậy, sự lây lan và mức độ lan rộng của ung thư vượt ra ngoài mô gan đóng một vai trò quan trọng trong việc lựa chọn điều trị.
Phẫu thuật: Ung thư gan có thể được điều trị đôi khi với phẫu thuật để loại bỏ các phần của gan với bệnh ung thư. Lựa chọn phẫu thuật được dành riêng cho các kích cỡ nhỏ hơn của các khối u ung thư.
Ghép gan: Các bác sĩ thay thế gan ung thư với một lá gan khỏe mạnh từ người khác. Nó thường được sử dụng trong các khối u gan rất nhỏ unresectable (không thể được gỡ bỏ) ở bệnh nhân xơ gan tiến triển.
Điều trị cắt bỏ: Đây là một thủ tục mà có thể giết chết tế bào ung thư trong gan, không cần bất kỳ phẫu thuật. Các bác sĩ có thể giết chết tế bào ung thư bằng nhiệt, laser, hoặc tiêm một cồn đặc biệt hoặc axit trực tiếp vào các bệnh ung thư. Kỹ thuật này có thể được sử dụng trong thuốc giảm đau khi bệnh ung thư là unresectable.
Thuyên tắc: Chặn việc cung cấp máu cho các bệnh ung thư có thể được thực hiện bằng cách sử dụng một thủ tục gọi là thuyên tắc. Kỹ thuật này sử dụng một ống thông để bơm các hạt hoặc hạt có thể làm nghẽn mạch máu nuôi khối u. Đói ung thư của các nguồn cung cấp máu ngăn ngừa sự phát triển của ung thư. Kỹ thuật này thường được sử dụng trên những bệnh nhân bị ung thư gan lớn cho thuốc giảm đau.
Xạ trị: Xạ sử dụng các tia năng lượng cao dẫn đến ung thư để tiêu diệt tế bào ung thư.
Hóa trị: Hóa trị sử dụng một loại thuốc có thể tiêu diệt các tế bào ung thư.Các loại thuốc có thể được đưa ra bằng miệng hoặc bằng cách tiêm vào tĩnh mạch.
Sorafenib là một thuốc uống mà có thể kéo dài sự sống (lên đến 3 tháng) ở những bệnh nhân bị ung thư gan tiến triển.

Thứ Ba, 3 tháng 3, 2015

Điều trị ung thư gan theo giai đoạn

Làm thế nào là ung thư gan giai đoạn?
Theo Hiệp hội Ung thư Mỹ, "Các giai đoạn của ung thư là một mô tả về cách rộng rãi nó được. Các giai đoạn của ung thư gan là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong việc lựa chọn điều trị. Một hệ thống dàn dựng là một cách thức chuẩn cho việc chăm sóc ung thư nhóm để tổng hợp thông tin về cách xa một ung thư đã lan rộng. Các bác sĩ sử dụng hệ thống dàn để có được một ý tưởng về tiên lượng của bệnh nhân (outlook) và để giúp xác định điều trị thích hợp nhất. Có một số hệ thống trung gian cho các bệnh ung thư gan, và không phải tất cả các bác sĩ sử dụng cùng một hệ thống. "

Sinh thiết gan cũng như nghiên cứu hình ảnh giúp đỡ trong việc phân loại bệnh ung thư gan theo Ủy ban Mỹ chung về Ung thư (AJCC) hệ thống TNM, Barcelona Clinic ung thư gan (BCLC) hệ thống dàn dựng, các ung thư của các chương trình hệ thống gan Ý (CLIP), hoặc hệ thống Okuda.
Điều trị ung thư gan là gì?
Việc điều trị được lựa chọn phụ thuộc vào loại ung thư đã lan rộng bao nhiêu và sức khỏe chung của gan. Ví dụ, mức độ xơ gan (cirrhosis) của gan có thể xác định các lựa chọn điều trị cho các bệnh ung thư. Tương tự như vậy, sự lây lan và mức độ lan rộng của ung thư vượt ra ngoài mô gan đóng một vai trò quan trọng trong việc lựa chọn điều trị.
Phẫu thuật: Ung thư gan có thể được điều trị đôi khi với phẫu thuật để loại bỏ các phần của gan với bệnh ung thư. Lựa chọn phẫu thuật được dành riêng cho các kích cỡ nhỏ hơn của các khối u ung thư.
Ghép gan: Các bác sĩ thay thế gan ung thư với một lá gan khỏe mạnh từ người khác. Nó thường được sử dụng trong các khối u gan rất nhỏ unresectable (không thể được gỡ bỏ) ở bệnh nhân xơ gan tiến triển.
Điều trị cắt bỏ: Đây là một thủ tục mà có thể giết chết tế bào ung thư trong gan, không cần bất kỳ phẫu thuật. Các bác sĩ có thể giết chết tế bào ung thư bằng nhiệt, laser, hoặc tiêm một cồn đặc biệt hoặc axit trực tiếp vào các bệnh ung thư. Kỹ thuật này có thể được sử dụng trong thuốc giảm đau khi bệnh ung thư là unresectable.
Thuyên tắc: Chặn việc cung cấp máu cho các bệnh ung thư gan có thể được thực hiện bằng cách sử dụng một thủ tục gọi là thuyên tắc. Kỹ thuật này sử dụng một ống thông để bơm các hạt hoặc hạt có thể làm nghẽn mạch máu nuôi khối u. Đói ung thư của các nguồn cung cấp máu ngăn ngừa sự phát triển của ung thư. Kỹ thuật này thường được sử dụng trên những bệnh nhân bị ung thư gan lớn cho thuốc giảm đau.
Xạ trị: Xạ sử dụng các tia năng lượng cao dẫn đến ung thư để tiêu diệt tế bào ung thư.
Hóa trị: Hóa trị sử dụng một loại thuốc có thể tiêu diệt các tế bào ung thư.Các loại thuốc có thể được đưa ra bằng miệng hoặc bằng cách tiêm vào tĩnh mạch.
Sorafenib là một thuốc uống mà có thể kéo dài sự sống (lên đến 3 tháng) ở những bệnh nhân bị ung thư gan tiến triển.

Xét nghiệm và chẩn đoán ung thư gan

Chẩn đoán ung thư gan
Kiểm tra và thủ tục được sử dụng để chẩn đoán ung thư gan bao gồm:
Các xét nghiệm máu. Xét nghiệm máu có thể phát hiện các bất thường chức năng gan.
Hình ảnh. Bác sĩ có thể khuyên bạn nên kiểm tra hình ảnh, chẳng hạn như siêu âm, chụp cắt lớp vi tính (CT scan) và chụp cộng hưởng từ (MRI).
Loại bỏ một mẫu mô gan để thử nghiệm. Trong sinh thiết gan, một mẫu mô được lấy ra từ gan của bạn và kiểm tra dưới kính hiển vi. Bác sĩ của bạn có thể chèn một kim nhỏ qua da và vào gan của bạn để có được một mẫu mô. Sinh thiết gan có nguy cơ chảy máu, bầm tím và nhiễm trùng.
Xác định mức độ của bệnh ung thư gan
Khi ung thư gan được chẩn đoán, bác sĩ sẽ làm việc để xác định mức độ (giai đoạn) của ung thư. Kiểm tra dàn giúp xác định kích thước và vị trí của ung thư và liệu nó đã lan rộng. Kiểm tra hình ảnh được sử dụng đến giai đoạn ung thư gan bao gồm các CT, MRI và chụp xương.


Có nhiều phương pháp khác nhau của dàn ung thư gan. Một phương pháp sử dụng chữ số La Mã từ I đến IV, và một người khác sử dụng các chữ cái từ A đến D. Bác sĩ sử dụng giai đoạn ung thư của bạn để xác định cách thức điều trị và tiên lượng của bạn. Giai đoạn IV và giai đoạn D cho thấy ung thư gan tiên tiến nhất với tiên lượng xấu.
Xem thêm nguyên nhân gây ung thư gan tại: http://benhvienungbuouhungviet.com/nguyen-nhan-benh-ung-thu-gan/

Nguyên nhân và triệu chứng ung thư gan

Các yếu tố nguy cơ ung thư gan là gì?
Tỷ lệ mắc ung thư tế bào gan đang gia tăng ở Hoa Kỳ do tăng tỷ lệ mắc bệnh xơ gan do viêm gan C mãn tính và không cồn gan nhiễm mỡ bệnh.
Xơ gan do bất kỳ nguyên nhân là một yếu tố nguy cơ ung thư gan. Các yếu tố nguy cơ ung thư gan trong xơ gan đang là nam giới, độ tuổi 55 tuổi trở lên, châu Á hay Tây Ban Nha dân tộc, lịch sử gia đình trong một đầu tiên mức độ tương đối, béo phì , viêm gan B và C, sử dụng rượu, và hàm lượng sắt cao trong máu.
Nhiễm viêm gan B mãn tính thậm chí không có xơ gan là yếu tố nguy cơ ung thư gan.
Các triệu chứng ung thư gan và các dấu hiệu là gì?
Ung thư gan không gây triệu chứng của riêng nó. Khi khối u phát triển, nó có thể gây ra các triệu chứng của cơn đau ở phía bên phải của bụng hoặc cảm giác no khi ăn. Một số bệnh nhân có thể có các triệu chứng xấu đi của bệnh gan mãn tính hay xơ gan, mà thường đi trước sự phát triển của bệnh ung thư gan. Ví dụ, bệnh nhân có quyền khiếu nại của việc giảm cân không giải thích được, lãng phí (suy mòn), giảm sự thèm ăn, tăng sưng chân và bụng, và vàng của mắt và da (vàng da).


Làm thế nào được chẩn đoán ung thư gan?
Cách tốt nhất để phát hiện ung thư gan là thông qua giám sát siêu âm gan mỗi sáu tháng thực hiện tại một bệnh nhân với chẩn đoán xơ gan và điều trị các bệnh ung thư gan ngay sau khi nó được phát hiện.
Một khi nghi ngờ ung thư gan phát sinh, bác sĩ sẽ đặt hàng một sau đây:
Xét nghiệm máu: alfa-fetoprotein (AFP), trong đó có thể được nâng lên trong 70% bệnh nhân bị ung thư gan. Mức AFP có thể là bình thường trong bệnh ung thư gan. Mức tăng của AFP là nghi ngờ ung thư gan.Các phòng thí nghiệm kiểm tra khác bao gồm des-gamma-carboxy prothrombin, có thể được nâng lên ở hầu hết các bệnh nhân bị ung thư gan.
Chẩn đoán hình ảnh: Multiphasic xoắn ốc CT scan và MRI với độ tương phản của gan là những hình ảnh ưa thích để phát hiện vị trí và mức độ cung cấp máu cho các bệnh ung thư. Nếu có bất kỳ nghiên cứu hình ảnh là không thể kết luận, sau đó một nghiên cứu hình ảnh thay thế hoặc theo dõi nghiên cứu hình ảnh nên được thực hiện để giúp làm rõ chẩn đoán. Tổn thương nhỏ hơn 1 cm thường khó tả.
Sinh thiết gan được thực hiện để lấy mẫu mô từ các tổn thương ở gan, được phân tích bởi một nghiên cứu bệnh học để xác định chẩn đoán nghi ngờ ung thư gan. Sinh thiết gan là không cần thiết trong mọi trường hợp, đặc biệt là nếu các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm chụp ảnh và dấu hiệu đặc trưng cho gan ung thư. Rủi ro của sinh thiết gan là nhiễm trùng, chảy máu, hoặc gieo hạt của các ca khúc kim với bệnh ung thư. Seeding là khi các tế bào ung thư có được trên kim được sử dụng để làm sinh thiết và lây lan sang các khu vực khác bằng cách chạm vào kim. Sinh thiết gan của bệnh ung thư gan bị nghi ngờ mang nguy cơ gia tăng của hạt giống theo dõi sinh thiết bằng kim gan ở 1% -3% các trường hợp. Nếu một sinh thiết gan là không thể kết luận, sau đó một nghiên cứu hình ảnh lặp lại được khuyến khích ở ba đến khoảng thời gian sáu tháng.

Thứ Hai, 2 tháng 3, 2015

Xơ gan có thể biến chứng thành ung thư gan

Gan có thể bị tổn thương bởi nhiều nhân tố như tắc nghẽn đường mật, viêm gan mãn tính, chấn thương liên tục do lạm dụng rượu, bia và các chất gây nghiện hàng ngày. Ở bệnh nhân xơ gan. gan mầu từ đỏ nhạt tới vàng nhạt khối lượng chỉ còn 500g, mật độ chắc cứng, mất tính nhẵn bóng của gan, lần xần hoặc mấp mô do các cục u và bộ máy gan bị thay đổi
Ở những vùng gan bị tổn thương sẽ sản sinh ra các mô xơ bao quanh các tế bào lành. Các mô xơ này sưng lên và lan rộng ra tạo thành các mô sẹo. Các mô sẹo tăng sẽ làm gan co lại. Các mô sẹo ép vào các mạch máu trong gan làm gián đoạn dòng chảy của máu đến tế bào gan, làm cho các tế bào gan đó chết đi. Các tế bào gan chết đi gây cản trở việc thực hiện các chức năng bình thường của gan dần làm mất chức năng của gan gây ảnh hưởng đến sức khỏe theo nhiều cách và gây ra nhiều biến chứng
Các biến chứng của xơ gan:
– Xơ gan là kết cục cuối cùng của các bệnh lý gan mạn tính. Khi gan bị hư hoại (vì bất kỳ nguyên nhân nào), các tế bào gan sẽ bị chết đi thay vào đó là các chất xơ. Xơ gan có thể gây ra các biến chứng sau:
– Cổ trướng (có nước trong ổ bụng): bụng phình to, căng bè ra hai bên khi nằm, bụng sệ ra phía trước và xuống dưới khi đứng hoặc ngồi, bệnh nhân có thể bị đau bụng, tiêu chảy hoặc sốt.
– Nôn ra máu: bệnh nhân thường nôn ra rất nhiều máu tươi, có thể bị choáng váng do thiếu máu cấp tính và tụt huyết áp, trong nhiều trường hợp có thể tử vong.
– Hôn mê do suy gan nặng.
– Suy thận cấp tính: bệnh nhân đi tiểu ít dần rồi không đi tiểu được nữa.
- Ung thư gan: mỗi năm, có khoảng 2,5% bệnh nhân xơ gan bị chuyển thành ung thư gan (chiếm 50% các trường hợp ung thư).

Trong thời kỳ đầu, đa số bệnh nhân ung thư gan hoàn toàn không có triệu chứng gì. Khi khối ung thư phát triển lớn hơn, bệnh nhân bị sụt cân, đau vùng dưới sườn bên phải, chán ăn, ăn không tiêu, sốt, sức khỏe suy sụp nhanh… Nếu được phát triển ở giai đoạn muộn, bệnh nhân ung thư gan thường chỉ sống được thêm khoảng 2-6 tháng, tùy mức độ lớn và mức độ di căn của khối u.
Tìm hiểu thêm về các nguyên nhân gây ung thư gan tại: http://benhvienungbuouhungviet.com/nguyen-nhan-benh-ung-thu-gan/

Các biến chứng của ung thư gan

Nhắc đến bệnh ung thư gan thì ai cũng đều biết được đây là căn bệnh rất nguy hiểm, gây tử vong cao nhưng không phải ai cũng biết được các biến chứng nguy hiểm của nó. Khi bệnh tiến triển nặng, các biến chứng xấu xảy ra có thể gây nguy hiểm cho người bệnh ngay lúc đó.
Triệu chứng bệnh ung thư gan
- Đau vùng gan: đau vùng hạ sườn phải, thường gặp vào thời kỳ giữa và cuối, đau tức hoặc như dao đâm. Thường trên nửa số bệnh nhân có đau vùng gan, đau xuyên lên vai phải và lưng.
- Bụng trên đầy tức, xuất hiện sớm, thường kèm theo những triệu chứng rối loạn tiêu hóa nhưng ít được chú ý, đến lúc muộn thì đã có nước bụng và cổ trướng.
- Chán ăn là triệu chứng sớm nhất của bệnh nhưng ít được chú ý và dần dần xuất hiện buồn nôn, nôn, tiêu chảy nặng lên đã là giai đoạn cuối.


- Những triệu chứng khác như mệt mỏi, sút cân, sốt và xuất huyết là những triệu chứng của thời kỳ cuối mà tiên lượng đã rất xấu.
- Gan to (khối u vùng bụng trên) trên 90% số bệnh nhân đến khám là gan to, cứng, mặt gồ ghề hoặc ấn đau.
- Lách to thường kèm theo và là kết quả của xơ gan.
- Cổ trướng là triệu chứng của thời kỳ cuối, nước bụng thường màu vàng cỏ úa hoặc màu đỏ (có máu), thuốc lợi tiểu thường không có hiệu quả.
- Hoàng đản (vàng da) do tắc mật và do tế bào hủy hoại nặng dần lên, mạch sao, thường xuất hiện vào thời kỳ cuối biểu hiện của xơ gan.
Biến chứng của ung thư gan
Những người bị ung thư gan đôi lúc có thể bị suy gan, xảy ra khi gan không thể kéo dài đầy đủ chức năng. Suy gan thường xảy ra khi có tổn thương tế bào gan kéo dài.
Thận cũng có thể bị suy, mất khả năng lọc máu và thải chất thải làm cho nồng độ của những chất nguy hiểm này tích luỹ trong cơ thể. Có thể có rất nhiều biến chứng, tuy nhiên lúc này ung thư gan đã di căn tới các cơ quan khác.
Ung thư gan có thể di căn qua phổi, xương, khoang ngực, não … và xuất hiện các triệu chứng tương ứng, nếu như di căn qua phổi sẽ dẫn đến ho ra máu, di căn màng não sẽ dẫn đến đau trong não hay phù não có máu; di căn qua xương sẽ dẫn đến đau tại cục bộ hoặc gẫy xương bệnh lý; di căn qua cột sống hoặc chèn ép dây thần kinh tủy sẽ dẫn đến đau tại cục bộ và liệt nửa người, di căn qua não sẽ xuất hiện đau đầu, ói mửa và dấu hiệu những dây thần kinh định vị.
Khi bệnh nhân ung thư gan bị sốt, tức là lượng lớn tổ chức ung thư bị phá hủy được cơ thể hấp thụ hay khối u chèn ép lên đường mật dẫn đến viêm đường mật hoặc bị nhiễm trùng gây ra, khi đó bệnh nhân ung thư gan sẽ tử vong rất nhanh.
Phòng bệnh là cách tốt nhất ngăn ngừa bệnh ung thư gan cũng như các biến chứng của nó
Phòng bệnh là phương pháp tốt nhất chống ung thư gan. Phải nỗ lực làm giảm xơ gan phát hiện sớm và điều trị viêm gan siêu vi mãn tính. Các thuốc điều trị viêm gan virus mãn tính, thuốc chống siêu vi cũng có thể làm giảm tỉ lệ ung thư gan.
Việc tiêm vacxin phòng chống siêu vi A, B rất cần thiết. Ngoài ra, người bệnh không nên uống rượu, bia và các chất có cồn. Phải khám sức khỏe định kỳ những người có nguy cơ nhằm phát hiện ung thư gan sớm.

Điều trị ung thư gan nguyên phát

Điều trị ung thư gan nguyên phát phụ thuộc vào giai đoạn của bệnh cũng như tuổi của bạn, sức khỏe nói chung, cảm giác và sở thích từng người. Thảo luận tất cả các lựa chọn của bạn cẩn thận với các bác sĩ điều trị. Chọn cách điều trị là một quyết định lớn, và điều quan trọng là phải có thời gian để cân nhắc lựa chọn của bạn.
Mục đích của bất cứ cách điều trị nào thường là loại bỏ hoàn toàn khối ung thư. Khi điều này không thể thực hiện, trọng tâm của điều trị có thể là ngăn ngừa khối u phát triển và di căn. Ở một số trường hợp chỉ điều trị làm giảm nhẹ gánh nặng là thích hợp. Điều trị làm giảm nhẹ gánh nặng bệnh không nhằm cắt bỏ hoặc làm giảm bệnh tật nhưng giúp làm giảm các triệu chứng và tạo cho bạn cảm giác dễ chịu nhất.
Điều trị ung thư gan nguyên phát ở trẻ em
Ung thư gan ở người trẻ tuổi là rất hiếm. Vì hầu hết trẻ em mắc bệnh đã được điều trị tại các trung tâm chuyên khoa ung thư trẻ em. Nói chung, đã có cách điều trị cho trẻ em cũng như với người lớn, và phương pháp tốt nhất tuỳ thuộc vào giai đoạn và loại ung thư cũng như cũng như tuổi của trẻ và sức khỏe nói chung.
Điều trị ung thư gan nguyên phát ở người lớn
Các liệu pháp chuẩn đối với ung thư gan nguyên phát ở người lớn gồm phẫu thuật, hóa trị liệu và xạ trị. Bác sĩ của bạn có thể cũng dùng các cách điều trị khác - gồm tiêm cồn, phẫu thuật lạnh khối u hoặc liệu pháp điện một chiều.

Phẫu thuật: là điều trị tốt nhất cho ung thư có thể cắt bỏ một vùng thường gọi là phẫu thuật cắt bỏ. Trong nhiều trường hợp vùng của gan nơi có khối ung thư hoàn toàn có thể cắt bỏ. Phẫu thuật cắt bỏ có thể cũng là một lựa chọn nếu bạn có ung thư không thể cắt bỏ một vùng. Bạn không thể thực hiện cắt bỏ khối u gan nếu bạn bị bệnh gan nặng hoặc nếu được cắt bỏ thì phần gan lành còn lại rất ít.
Xạ trị: cách điều trị ung thư gan này dùng tia X liều cao để phá huỷ tế bào ung thư và làm khối u nhỏ lại. Xạ trị có thể từ một máy bên ngoài cơ thể hoặc một số chất chứa phóng xạ được đưa vào gan của bạn. Trong một kỹ thuật thử nghiệm, xạ trị được phân phối tới các tế bào gan đặc hiệu bằng cách gắn các chất có hoạt tính phóng xạ với kháng thể - phân tử sản sinh bởi hệ miễn dịch của bạn để đáp ứng với các vi khuẩn xâm nhập. Xạ trị có thể được dùng để điều trị ung thư không thể cắt bỏ một vùng. Hoặc bạn có thể được dùng liệu pháp xạ trị sau khi phẫu thuật cắt bỏ khối u để giúp phá huỷ các tế bào ung thư vẫn còn sót lại. Xạ trị có thể ảnh hưởng đến mô lành cũng như khối u và có thể gây ra tác dụng phụ như là mệt mỏi, buồn nôn và nôn.
Hoá trị liệu: biện pháp điều trị này sử dụng các thuốc có tác động mạnh để tiêu diệt tế bào ung thư. Hoá trị liệu có thể có tác dụng toàn thân - có nghĩa là thuốc tuần hoàn khắp cơ thể theo dòng máu - hoặc tại chỗ.
Trong điều trị tại chỗ, một bơm nhỏ được đặt tạm thời vào trong ổ bụng của bạn dẫn thuốc trực tiếp vào mạch máu đi tới khối u. Bạn có thể dùng hóa trị liệu đơn độc hoặc sau khi phẫu thuật để giúp tiêu diệt bất kỳ tế bào ung thư nào còn sót lại.
Hoá trị liệu hệ thống nhìn chung không hiệu quả trong điều trị bệnh ung thư gan, nhưng các loại hoá trị liệu khác - gọi là hoá trị liệu tại chỗ - là một phần quan trọng trong điều trị carcinom tế bào gan. Trong thủ thuật này, động mạch gan - động mạch chính cung cấp máu cho gan - bị làm tắc nghẽn và các thuốc hoá trị liệu được tiêm vào giữa chỗ bị nghẽn và gan. Liệu pháp hoá trị liệu tại chỗ có thể cải thiện tỷ lệ sống sót của người ung thư gan có khối u không thể cắt bỏ được. Cũng như các dạng khác của hóa trị liệu, hoá trị liệu tại chỗ có thể gây các tác dụng phụ như đau bụng, buồn nôn và nôn.
Trên thực tế ở nhiều người, các tác dụng phụ của hoá trị liệu là khía cạnh khó chịu nhất trong điều trị ung thư. Các tác dụng phụ xảy ra vì hoá trị liệu gây tổn thương các tế bào lành cùng với tế bào ác tính. Các tế bào phát triển nhanh như những tế bào trong đường tiêu hóa, tuỷ xương và xương đặc biệt dễ bị ảnh hưởng. Nhưng mặc dù các tác dụng phụ là phổ biến, mức nghiêm trọng tuỳ thuộc vào các thuốc đã sử dụng và đáp ứng của bạn với thuốc. Đôi khi bạn có thể có một vài phản ứng. Mặt khác, bạn có thể trải qua các triệu chứng như buồn nôn và nôn, mệt mỏi, nhiễm trùng và rụng tóc. Điều này có thể khắc phục được bằng thuốc chống nôn thế hệ mới có thể giảm các triệu chứng đường ruột nặng nhất. Các kỹ thuật thư giãn và châm cứu, như các hình ảnh chỉ dẫn, thiền, thở sâu, cũng có thể giúp giảm buồn nôn và nôn. Cũng nên hỏi ý kiến nhóm điều trị cho bạn về các tác dụng phụ của bất kỳ phương pháp điều trị nào bạn đang cân nhắc và cách tốt nhất để giảm thiểu các tác dụng phụ đó.
Tiêm cồn: trong thủ thuật này, cồn nguyên chất được tiêm trực tiếp vào trong khối u, qua da hoặc trong phẫu thuật. Cồn sẽ rút nước của các tế bào trong khối u và thậm chí tiêu diệt các tế bào này. Mỗi đợt điều trị bao gồm một lần tiêm, mặc dù bạn có thể cần tiêm nhiều lần để cho kết quả tốt nhất. Tiêm cồn là một thủ thuật đơn giản và an toàn đã cho thấy cải thiện tỷ lệ sống ở người có khối u tế bào gan nhỏ. Tiêm cồn cũng được sử dụng để giúp làm giảm các triệu chứng trong trường hợp ung thư gan di căn. Các tác dụng phụ thường nhỏ.
Tiêu mòn bằng tần số vô tuyến: trong thủ thuật này, dòng điện một chiều trong dải tần vô tuyến được sử dụng để phá huỷ các tế bào ác tính dưới hướng dẫn của siêu âm hoặc chụp cắt lớp CT. Phẫu thuật viên sẽ gài một vài chiếc kim nhỏ vào một đường rạch nhỏ trên bụng của bạn. Khi những chiếc kim này tiến tới khối u, chúng được làm nóng lên bằng dòng điện một chiều, phá huỷ các tế bào ác tính. Tiêu mòn bằng tần số vô tuyến được lựa chọn cho những người có khối u tế bào gan không thể cắt bỏ, nhỏ, và một số loại ung thư gan di căn. Thủ thuật này tương đối ít tác dụng phụ, và bạn có thể thường được về nhà khoảng 2-3 giờ sau khi được điều trị. Tiêu mòn bằng tần số vô tuyến có hiệu quả ở 65% số trường hợp và thường thành công chỉ với các khối u nhỏ.
Liệu pháp lạnh: phương pháp điều trị này sử dụng nhiệt độ rất lạnh để phá huỷ các tế bào ung thư. Một phương pháp truyền thống được sử dụng để điều trị ung thư da giai đoạn sớm, liệu pháp lạnh hiện nay là lựa chọn cho những người ung thư gan nguyên phát không mổ được và ung thư gan di căn. Phương pháp này cũng có thể được sử dụng cùng với phẫu thuật, hóa trị liệu hoặc các điều trị chuẩn khác. Trong thủ thuật này, bác sĩ đặt một dụng cụ có chứa nitrogen lỏng trực tiếp vào khối u gan. Dịch nitrogen lỏng có nhiệt độ dưới 320 độ F. Siêu âm được sử dụng để hướng dẫn que lạnh và theo độ lạnh ở tế bào. liệu pháp lạnh ít xâm hại hơn các phẫu thuật thông thường và chỉ cần một vết rạch nhỏ. Vì vậy bạn dễ có khả năng liền sẹo nhanh hơn và ít các biến chứng hơn.
Các tác dụng phụ - khuynh hướng ít nghiêm trọng hơn so với phẫu thuật, hóa trị liệu hoặc xạ trị - bao gồm tổn thương đường dẫn mật và các mạch máu lớn, dẫn tới chảy máu hoặc nhiễm trùng. Nhưng mặt hạn chế lớn của liệu pháp lạnh là không chắc chắn về hiệu quả lâu dài.
Ghép gan: trong thủ thuật này, gan bị bệnh được lấy bỏ và được ghép bằng gan lành - tạng được hiến. Không may là, ghép gan hiếm khi được người bệnh ung thư gan lựa chọn vì không chắc chắn cải thiện triển vọng lâu dài. Ở hầu hết trường hợp, ung thư tái phát bên ngoài gan sau khi ghép gan.

Các khối u lành tính - các loại ung thư gan nguyên phát

1) Khối u không phải ung thư (lành tính) cũng có thể phát triển trong gan, gồm:
U mạch: đây là loại khối u gan lành tính hay gặp nhất. Nó tác động tới các mạch máu trong gan và kết quả thường là từ một loại mô dị tật bẩm sinh trong quá trình phát triển phôi thai. Hầu hết các u mạch của gan không gây ra các dấu hiệu hoặc triệu chứng và không cần điều trị.
U tuyến gan: đây là loại khối u lành tính có nguồn gốc trong tế bào gan - loại chủ yếu của tế bào gan. Trong hầu hết các trường hợp u tuyến gan không gây ra dấu hiệu và triệu chứng, nhưng đôi lúc bạn bị đau bụng, một khối ở bụng hoặc mất máu. Bạn dễ bị loại khối u lành tính này nếu bạn dùng thuốc tránh thai, nhưng biện pháp đơn giản là dừng dùng thuốc thường sẽ làm khối u nhỏ đi.
Tăng sản hạch trọng tâm: khối u này là một vài loại tế bào phối hợp, gồm các loại tế bào gan, tế bào đường mật và mô liên kết. Giống như các khối u lành tính khác, thường hay gặp ở phụ nữ hơn nam giới và thường không gây các dấu hiệu hoặc triệu chứng.
2) Có rất nhiều loại ung thư gan nguyên phát và triệu chứng gồm:
Carcinom tế bào gan:
Đây là dạng ung thư gan nguyên phát hay gặp nhất ở cả trẻ em và người lớn. Ung thư bắt đầu từ các tế bào gan, loại tế bào gan chủ yếu, nhưng có thể lan ra theo nhiều cách khác nhau - như là một khối u đơn độc từ từ xâm lấn các tế bào gan khác hoặc khi ung thư lan ngay lập tức vào toàn bộ gan. Nguyên nhân phổ biến nhất của carcinom tế bào gan gồm xơ gan, nhiễm virus viêm gan B hoặc viêm gan C và ăn thực phẩm có chứa aflatoxin.

Carcinom đường mật:
Loại ung thư này bắt đầu ở các đường mật nhỏ trong gan. Bạn tăng nguy cơ bị carcinoma đường mật nếu bạn bị sỏi mật hoặc loét tiêu hóa. Các ký sinh trùng trong gan thường được phát hiện ở nhiều nơi tại Đông Nam Á cũng có thể gây loại ung thư này.
U nguyên bào gan: loại ung thư gan hiếm gặp này hay gặp ở trẻ nhỏ dưới 4 tuổi và có thể do gen bất thường. Thật may là hầu hết trẻ em bị u nguyên bào gan có thể điều trị thành công.
Sarcoma mạch:
Loại ung thư này hiếm gặp bắt đầu từ mạch máu trong gan và do tiếp xúc với các hóa chất công nghiệp như là vinyl chlorid hoặc các thuốc chứa dioxyt thori (Thorotrast). Các chất này ngày nay ít gặp. Ngành y tế đã không dùng Thorotrast từ gần 50 năm qua, và các công nhân hiện đang được bảo vệ tốt hơn tránh phải tiếp xúc với hóa chất gây ung thư này.
Ung thư di căn:
Ở Mỹ, hầu hết ung thư gan được phát hiện đã di căn tới các nơi khác trong cơ thể. Hơn nữa, được qui là bệnh ung thư gan, loại ung thư này thường được gọi như vậy sau khi ung thư có nguồn gốc từ gan và là loại ung thư di căn. Ví dụ, ung thư đã di căn từ gan đến đại tràng được gọi là ung thư đại tràng di căn.
Ung thư di căn được hình thành khi tế bào ác tính tách riêng ra từ ung thư ban đầu và đi khắp cơ thể qua tuần hoàn hoặc hệ bạch mạch. Vì gan gần với một số nội tạng - gồm tuỵ, túi mật, dạ dày, đại tràng, vú và phổi - và vì gan là cơ quan được cung cấp nhiều máu, khối u gan đặc biệt dễ di căn. Ung thư gan thứ phát xảy ra ở hơn 75% người có ung thư các nội tạng giai đoạn muộn khác.
Xem thêm các nguyên nhân gây nên bệnh ung thư gan tại: http://benhvienungbuouhungviet.com/nguyen-nhan-benh-ung-thu-gan/.

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2015

Cắt bỏ khối u ung thư gan

Ablation đề cập đến phương pháp điều trị giúp tiêu diệt các khối u gan mà không loại bỏ chúng. Những kỹ thuật này thường được sử dụng ở những bệnh nhân không có nhiều hơn một vài khối u nhỏ nhưng đối với người mà phẫu thuật không phải là một lựa chọn tốt (thường do sức khỏe kém hoặc suy giảm chức năng gan). Họ ít có khả năng chữa trị ung thư gan hơn so với phẫu thuật, nhưng họ vẫn có thể rất hữu ích cho một số người. Những phương pháp điều trị cũng thường được sử dụng ở những bệnh nhân chờ ghép gan.

Cắt đốt được sử dụng tốt nhất cho các khối u không lớn hơn khoảng 3 cm trên (một ít hơn một inch). Đối với những khối u lớn hơn một chút (3-5 cm trên), nó có thể được sử dụng cùng với Thuyên tắc (xem phần sau). Bởi vì ablation thường phá hủy một số các mô bình thường xung quanh khối u, nó có thể không là một lựa chọn tốt cho điều trị các khối u gần tàu lớn máu, cơ hoành, hoặc ống dẫn mật chính.
Loại điều trị ung thư gan thường không đòi hỏi một thời gian nằm viện. Thông thường, có thể cắt bỏ được thực hiện mà không phẫu thuật bằng cách chèn một kim hoặc đầu dò vào trong khối u qua da. Các kim hoặc dò được hướng dẫn vào vị trí bằng siêu âm hoặc CT scan. Đôi khi, tuy nhiên, để đảm bảo việc điều trị là nhằm vào đúng vị trí, nó có thể được thực hiện trong quá trình phẫu thuật.
Radiofrequency ablation (RFA)
Quy trình này sử dụng sóng vô tuyến năng lượng cao để điều trị. Bác sĩ sẽ đưa một cây kim như thăm dò mỏng vào trong khối u. A-cao tần sau đó đi qua các đỉnh của đầu dò, làm nóng các khối u và tiêu diệt các tế bào ung thư gan. Đây là một phương pháp điều trị phổ biến cho các khối u nhỏ.
Ethanol (cồn) ablation
Điều này còn được gọi là tiêm ethanol qua da (PEI). Trong thủ tục này, rượu tập trung được tiêm trực tiếp vào khối u để tiêu diệt tế bào ung thư.
Sóng nhiệt
Trong thủ tục này, lò vi sóng truyền qua các đầu dò được sử dụng để làm nóng và phá hủy các mô bất thường.
Phẫu thuật lạnh (phương pháp áp lạnh)
Thủ tục này phá hủy khối u bằng cách đông lạnh nó sử dụng đầu dò kim loại mỏng. Các thăm dò được hướng dẫn vào trong khối u và sau đó khí rất lạnh được truyền thông qua thăm dò để đóng băng các khối u, giết chết các tế bào ung thư gan. Phương pháp này có thể được sử dụng để điều trị các khối u lớn hơn so với các kỹ thuật cắt đốt khác, nhưng đôi khi nó đòi hỏi phải gây mê toàn thân (nơi bạn đang ngủ sâu và không thể cảm thấy đau).
Tác dụng phụ của điều trị cắt bỏ
Các tác dụng phụ sau điều trị cắt bỏ bao gồm đau bụng, nhiễm trùng trong gan, và chảy máu vào khoang ngực hoặc bụng. Các biến chứng nghiêm trọng là không phổ biến, nhưng họ có thể.
BỆNH VIỆN UNG BƯỚU HƯNG VIỆT
Địa chỉ: Số 34 Đường Đại Cồ Việt, Hai Bà Trưng, Hà Nội
Điện thoại: 0462 50 07 07| Fax: 04.6280 0108

Điều gì xảy ra sau khi điều trị ung thư gan?

Điều gì xảy ra sau khi điều trị ung thư gan?
Đối với một số người bị ung thư gan, điều trị có thể loại bỏ hoặc phá hủy các bệnh ung thư. Điều trị hoàn thành có thể được cả hai căng thẳng và thú vị. Bạn có thể được thuyên giảm để kết thúc điều trị, nhưng thấy khó không phải lo lắng về bệnh ung thư phát triển hoặc trở lại. (Khi bệnh quay trở lại sau khi điều trị, nó được gọi là một sự tái phát).Đây là một mối quan tâm rất phổ biến ở những người đã bị ung thư.
Nó có thể mất một thời gian trước khi nỗi sợ hãi của bạn giảm bớt. Nhưng nó có thể giúp để biết rằng nhiều người sống sót sau ung thư đã học được cách sống với sự không chắc chắn này và đang dẫn đầu cuộc sống đầy đủ. 

Đối với những người khác, ung thư gan có thể không bao giờ mất đi hoàn toàn. Bạn vẫn có thể có được điều trị thường xuyên cố gắng để giúp giữ cho các bệnh ung thư trong kiểm tra. Học cách sống với bệnh ung thư mà không hết có thể khó khăn và rất căng thẳng. Nó có kiểu riêng của nó không chắc chắn.
Theo dõi chăm sóc
Ngay cả sau khi bạn đã hoàn tất điều trị, các bác sĩ của bạn vẫn sẽ cần phải theo dõi sát. Nó là rất quan trọng để đi đến tất cả các cuộc hẹn theo dõi. Trong các chuyến thăm, các bác sĩ của bạn sẽ hỏi về triệu chứng, làm bài kiểm tra thể chất, và có thể yêu cầu xét nghiệm máu, như alpha-fetoprotein (AFP) cấp, xét nghiệm chức năng gan (LFTs).Kiểm tra hình ảnh, chẳng hạn như siêu âm, CT, MRI hoặc quét cũng có thể được đặt hàng.
Nếu bạn đã được điều trị bằng phẫu thuật cắt bỏ hoặc ghép gan và không có dấu hiệu của ung thư còn lại, hầu hết các bác sĩ khuyên bạn nên theo dõi với kiểm tra hình ảnh và xét nghiệm máu mỗi 3-6 tháng trong 2 năm đầu tiên, sau đó mỗi 6 đến 12 tháng. Theo dõi là cần thiết để kiểm tra ung thư tái phát, lây lan, cũng như tác dụng phụ của phương pháp điều trị nào đó.
Đây là thời gian cho bạn để yêu cầu nhóm chăm sóc sức khỏe của bạn bất kỳ câu hỏi mà bạn cần trả lời và thảo luận về những mối quan tâm bạn có thể có.
Hầu như bất kỳ điều trị ung thư có thể có tác dụng phụ. Một số có thể kéo dài một vài tuần đến vài tháng, nhưng những người khác có thể kéo phần còn lại của cuộc sống của bạn. Đừng ngần ngại nói với đội ngũ chăm sóc bệnh ung thư của bạn về bất kỳ triệu chứng hay tác dụng phụ mà làm phiền bạn để họ có thể giúp bạn quản lý chúng một cách hiệu quả.
Điều quan trọng là phải có bảo hiểm y tế. Chăm sóc sức khỏe rất nhiều chi phí, và mặc dù không ai muốn nghĩ về bệnh ung thư của họ trở lại, điều này có thể xảy ra.
Nếu ung thư của bạn không trở lại, việc điều trị sẽ phụ thuộc vào vị trí của ung thư, điều trị bạn đã có từ trước, và chức năng gan và sức khỏe tổng thể của bạn.
Theo dõi sau khi ghép gan
Ghép gan có thể rất hiệu quả trong việc điều trị các bệnh ung thư và thay thế một lá gan bị hư hỏng. Nhưng đây là một thủ tục chính đòi hỏi cường độ cao theo dõi sau điều trị. Cùng với giám sát của bạn phục hồi sau phẫu thuật và tìm kiếm dấu hiệu có thể tái phát ung thư, đội ngũ y tế của bạn sẽ theo dõi sát để đảm bảo rằng cơ thể của bạn không được từ chối gan mới.
Bạn sẽ cần phải dùng thuốc mạnh để giúp ngăn chặn sự từ chối. Những loại thuốc này có thể có tác dụng phụ của riêng mình, bao gồm cả làm suy yếu hệ thống miễn dịch của bạn, mà có thể làm cho bạn nhiều khả năng để có được nhiễm trùng .
Nhóm ghép của bạn sẽ cho bạn biết những gì để xem cho về triệu chứng và tác dụng phụ và khi bạn cần phải liên hệ với họ. Nó là rất quan trọng để làm theo hướng dẫn của họ chặt chẽ.
Điều trị chống virus
Nếu bạn bị viêm gan B hoặc C có thể đã góp phần vào bệnh ung thư gan, bác sĩ của bạn có thể muốn đưa bạn về các loại thuốc để điều trị hoặc giúp kiểm soát sự lây nhiễm.
Thấy một bác sĩ mới
Tại một số điểm sau khi chẩn đoán bệnh ung thư và điều trị, bạn có thể tìm thấy chính mình khi nhìn thấy một bác sĩ mới, những người không biết gì về lịch sử y tế của bạn. Điều quan trọng là bạn có thể cung cấp cho bác sĩ của bạn mới các chi tiết của việc chẩn đoán và điều trị của bạn. Thu thập các thông tin chi tiết ngay sau khi điều trị có thể được dễ dàng hơn so với cố gắng để có được chúng tại một số điểm trong tương lai. Hãy chắc chắn rằng bạn có thông tin này hữu ích:
Một bản sao của báo cáo bệnh lý của bạn (s) từ bất kỳ sinh thiết hay phẫu thuật
Bản sao các xét nghiệm hình ảnh (CT hoặc MRI quét, vv), mà thường có thể được lưu trữ trên một đĩa CD, DVD, vv
Nếu bạn đã phẫu thuật, một bản sao của báo cáo tác của bạn (s)
Nếu bạn đã ở trong bệnh viện, một bản sao của bản tóm tắt thải mà các bác sĩ chuẩn bị khi bệnh nhân được đưa về nhà
Nếu bạn đã có bức xạ trị liệu, một bản tóm tắt của các loại và liều bức xạ và khi nào và nơi mà nó đã được đưa ra
Nếu bạn đã được hóa trị hay liệu pháp nhắm mục tiêu, một danh sách các loại thuốc của bạn, liều thuốc, và khi bạn chụp
Bác sĩ có thể muốn bản sao của thông tin này cho các hồ sơ của mình, nhưng luôn luôn giữ các bản sao cho chính mình.

Thứ Năm, 26 tháng 2, 2015

Ung thư gan giai đoạn cuối không nên từ bỏ điều trị

Ung thư gan thuộc loại khó điều trị, bệnh nhân ung thư gan giai đoạn đầu có thể lựa chọn phẫu thuật cắt bỏ. Trong khi đó, đa số bệnh nhân ung thư gan giai đoạn muộn không thể phẫu thuật do hoặc là sức khoẻ yếu, hoặc là bệnh tình quá nặng. Hơn nữa, độ ác tính của ung thư gan giai đoạn muộn khá cao, tốc độ phát triển của bệnh nhanh chóng, rất nhiều bệnh nhân đã tử vong trước khi điều trị dẫn tới nhiều bệnh nhân sau khi phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn đã từ bỏ điều trị.

Điều trị khoa học 1 cách hợp lý còn có thể giúp bệnh nhân kéo dài tuổi thọ, nâng cao chất lượng điều trị. Khi ung thư gan phát triển tới giai đoạn giữa muộn, thì điều trị can thiệp mạch là một trong những phương pháp điều trị xâm nhập tối thiểu trúng đích có thể khống chế sự phát triển của bệnh.
So với giai đoạn giữa, thì bệnh nhân ở giai đoạn muộn các tế bào ung thư đã di căn sang cơ quan khác, sức khỏe bệnh nhân suy yếu, nên việc lựa chọn phương pháp điều trị cần phải cẩn thận.
Hiện nay, phương pháp Cấy hạt phóng xạ I125 một trong những phương pháp xâm nhập tối thiểu được quốc tế công nhận là lựa chọn tốt nhất cho bệnh nhân ung thư giai đoạn muộn.
Bệnh án điển hình
Bệnh nhân N,78 tuổi tới từ Việt Nam. Bác sĩ chẩn đoán ông N. mắc ung thư gan nguyên phát giai đoạn cuối vào tháng 10 năm 2011. Do sức khoẻ và tuổi tác của ông đã cao, đồng thời bệnh nhân có tiền sử mắc bệnh tim mạch, nên bác sĩ đã quyết định điều trị cho ông bằng phương pháp cấy hạt phóng xạ I125 và đốt cao tần. Sau vài lần điều trị, tới tháng 11 năm 2012, khi chụp CT kiểm tra khối u của bệnh nhân đã nhu nhỏ 85%, sức khoẻ tốt lên.
Ngoài ra, phương pháp cấy hạt phóng xạ I125 là một dạng xạ trị bên trong. Các hạt phóng xạ được đưa trực tiếp vào trong khối u, không ngừng phát ra tia xạ liều thấp tiêu diệt khối u. Phương pháp cấy hạt phóng xạ I125 có thể giúp 90% bệnh nhân nâng cao chất lượng cuộc sống, kéo dài tuổi thọ với những ưu điểm như: không đau, phạm vi sử dụng rộng rãi, điều trị liên tục, chính xác.
Như vậy, có thể nói rằng phương pháp cấy hạt phóng xạ không những là sự đại diện cho tiến bộ kĩ thuật của ngành Y, mà còn là vũ khí giúp bệnh nhân chiến đấu với căn bệnh Ung Thư quái ác.
BỆNH VIỆN UNG BƯỚU HƯNG VIỆT
Địa chỉ: 34 Đại Cồ Việt, Q. Hai Bà Trưng, Hà Nội
Email: bvubhungviet@gmail.com
Website: benhvienungbuouhungviet.com
Điện thoại: 04.6272.4444 - 04. 6250. 0707
Hotline: 0913.51.0707 - 0949.51.0707 - 0948.92.0707

Chữa trị ung thư gan

Đánh giá về hiệu quả điều trị ung thư gan, bệnh ung thư gan được phát hiện sớm thì hiệu quả điều trị lên tới 80%. Ung thư gan có thể chữa khỏi nếu u còn nhỏ. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, đa số bệnh nhân đến bệnh viện khám thì ung thư gan đã ở giai đoạn cuối.

Nếu được phẫu thuật khi kích thước khối u dưới 3cm, gan chỉ mới bị xơ thì khả năng sống thêm sau 5 năm lên đến 80 – 90%. Tỷ lệ trên sẽ giảm còn 60% nếu khối u từ 3 – 6cm, và chỉ còn 10 – 15% nếu khối u lớn hơn 6cm. Trường hợp khối u lớn hơn 10cm, thì không chữa khỏi được, nhất là khi bệnh nhân đã bị vàng da, vàng mắt. Việc điều trị chỉ có thể kéo dài sự sống và giảm đau.
Khi phát hiện kịp thời ung thư gan ở giai đoạn thứ phát, bệnh nhân có thể sẽ được điều trị bằng các phương pháp:
Phẫu thuật cắt bỏ: Ung thư khu trú ở 1 phần của lá gan và phần còn lại vẫn khỏe mạnh. Phẫu thuật sẽ cắt bỏ phần khối u ung thư ra khỏi gan.
Cấy ghép gan: Nếu khối u ung thư có ở cả 2 lá gan, hoặc chỉ có 1 bên gan, nhưng lá gan còn lại không khỏe thì không thể tiến hành phẫu thuật cắt bỏ được mà phải sử dụng phương pháp cấy ghép gan, có nghĩa là cắt bỏ toàn bộ gan của bệnh nhân và thay thế bằng nửa lá gan từ một người hiến tặng khỏe mạnh. Cấy ghép gan là phương pháp điều trị tốt nhất cho bệnh nhân ung thư gan khi ung thư chưa di căn ra ngoài.
Xạ trị: Sử dụng tia X liều cao để phá hủy các tế bào ung thư và làm nhỏ khối u. Xạ trị thường điều trị những khối u khu trú, ung thư không phẫu thuật được, và sau phẫu thuật khối u để diệt những tế bào ác tính còn sót lại.
Hóa trị: Sử dụng các loại thuốc mạnh để diệt các tế bào ung thư.
Sau 5 năm điều trị ung thư, nếu bệnh nhân vẫn sống và khối u không phát triển lại thì được coi là khỏi bệnh, bởi sau thời gian đó, coi như bệnh không còn tái phát. Nếu ung thư lại xuất hiện thì đó là bệnh mới.

Ung thư gan nguyên phát và cách chữa trị

Nhờ sự phát triển của chẩn đoán hình ảnh, công nghệ sinh học... việc chẩn đoán bệnh ung thư gan nguyên phát sớm hơn, một số thuốc điều trị đích đã và đang được ứng dụng phần nào cải thiện thời gian sống cho người bệnh.

Ung thư gan nguyên phát hay còn gọi là ung thư biểu mô tế bào gan là loại ung thư phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Nguyên nhân của bệnh có liên quan rõ rệt với viêm gan virut B, viêm gan C, sán lá gan, vai trò của aflatoxin B1, rượu. Phòng bệnh ung thư gan hoàn toàn có thể ngăn ngừa được bằng cách tiêm phòng viêm gan, đặc biệt phụ nữ mang thai, trẻ em và thay đổi lối sống.
Những biểu hiện thường gặp của ung thư gan
Ung thư gan sớm thường không có triệu chứng. Khi ung thư phát triển lớn hơn ta có thể nhận thấy một hoặc nhiều các triệu chứng như: cảm giác nặng, đau hoặc tự sờ thấy khối vùng hạ sườn phải. Mệt mỏi, mất cảm giác ngon miệng, gầy sút cân, buồn nôn và nôn. Vàng da, vàng mắt, phân nhạt màu, nước tiểu đậm màu. Khi có di căn xa có thể thấy kèm theo các triệu chứng của các cơ quan mà ung thư lan tới. Ung thư gan thường lan đến phổi, có lẽ bằng đường máu. Một số ít trường hợp ung thư lan đến xương hoặc não.
Làm thế nào để biết bệnh ung thư gan?
Xét nghiệm máu
Không có xét nghiệm tầm soát đáng tin cậy và chính xác cho bệnh ung thư gan. Xét nghiệm sinh hóa sử dụng rộng rãi nhất là αFP (alpha-fetoprotein), αFP tăng gặp ở cả bệnh nhân viêm gan cấp và mạn tính (tăng mức độ nhẹ hoặc vừa). αFP tăng cao (trên 500ng/ml) rất gợi ý cho một ung thư gan, độ nhạy của αFP cho ung thư gan là khoảng 60%, do đó một αFP bình thường không loại trừ ung thư gan.
Chẩn đoán hình ảnh
Nghiên cứu hình ảnh siêu âm, CT scan, MRI đóng vai trò rất quan trọng trong việc chẩn đoán ung thư gan, giúp cung cấp thông tin về kích thước khối u, số lượng các khối u, sự xâm lấn và lan rộng của ung thư.
Sinh thiết gan hoặc hút tế bào
Thực hiện sinh thiết kim dưới hướng dẫn của siêu âm hoặc CT scan, nguy cơ hay gặp nhất của phương pháp này là chảy máu do ung thư gan là khối u rất giàu mạch máu. Trong một số trường hợp ung thư gan, mô ung thư rất giống mô gan lành dưới kính hiển vi. Đôi khi có thể nhầm lẫn ung thư gan và ung thư tuyến trong gan. Các tiến bộ trong hóa mô miễn dịch có thể giúp phân biệt các trường hợp này.
Hút tế bào an toàn hơn sinh thiết do ít nguy cơ chảy máu, tuy nhiên, mẫu bệnh phẩm thu được bằng hút là khó khăn hơn.
Nên chọn phương pháp nào để chữa trị?
Lựa chọn phương pháp điều trị được quyết định bởi các giai đoạn của ung thư gan và tình trạng chung của bệnh nhân.
Phẫu thuật cắt bỏ gan
Mục đích của phẫu thuật cắt gan là để loại bỏ hoàn toàn khối u và các mô xung quanh. Lựa chọn này được giới hạn ở những bệnh nhân có một hoặc hai u nhỏ (kích thước dưới 3cm) và chức năng gan còn tốt, không có xơ gan liên quan. Những bệnh nhân có khối u được phẫu thuật thành công, tỷ lệ sống sót sau 5 năm lên đến 60%.
Ghép gan
Ghép gan là lựa chọn tốt nhất cho những bệnh nhân có khối u nhỏ hơn 5cm và có dấu hiệu của suy gan. Để phòng ngừa, làm sinh thiết hoặc hút tế bào nên tránh ở những bệnh nhân cân nhắc ghép gan.
Hóa tắc động mạch gan (trans-arterial chemoembolization or TACE)
Thủ thuật này cũng tương tự như bơm hóa chất động mạch gan, nhưng trong TACE có bổ sung những hạt gel nhỏ làm tắc mạch sau khi bơm hóa chất. Ưu điểm của phương pháp này là tập hóa chất nồng độ cao và không bị mang đi bởi máu. Bằng cách dựa trên chặn lưu lượng máu đến khối u, TACE cũng gây ra một số thiệt hại cho vùng gan xung quanh, bệnh nhân có thể có đau, sốt, nhiễm trùng, tích tụ chất lỏng.

Thứ Tư, 25 tháng 2, 2015

Dấu hiệu sớm của bệnh ung thư gan

Nếu nước tiểu có màu tối, thấy mỏi mệt kéo dài, chướng bụng, sút cân, vàng da..., rất có thể đó là dấu hiệu sớm của bệnh ung thư gan.
Gan là một trong những cơ quan sống còn của cơ thể người. Đây là tuyến lớn nhất và là cơ quan lớn thứ hai trong cơ thể chúng ta. Chức năng của gan rất quan trọng cho một cuộc sống lành mạnh. Ung thư gan là một trong những vấn đề phổ biến ảnh hưởng đến chức năng của bộ phận này, đe dọa đến tính mạng.
Khoa học y tế hiện đại có rất nhiều phương pháp điều trị để giúp một bệnh nhân ung thư gan có thể sống sót. Nhưng điểm quan trọng cần làm là phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm. Dưới đây là danh sách dấu hiệu đầu tiên của bệnh ung thư gan.
Nước tiểu có màu tối
Tăng bilirubin trong máu sẽ làm cho màu sắc của nước tiểu thay đổi từ màu vàng sẫm đến nâu. Nếu bạn nhận thấy có sự thay đổi màu sắc của nước tiểu, hãy đến gặp bác sĩ sớm nhất có thể.
Tụ dịch trong bụng
Tụ dịch trong bụng là một trong những triệu chứng ung thư gan giai đoạn đầu. Chướng bụng cùng với việc có thể sờ thấy được gan là một dấu hiệu bệnh ung thư gan.
Đau bụng
Gan nở rộng và suy giảm chức năng sẽ dẫn đến đau bụng. Nếu bạn bị đau bụng cùng với gan nở rộng, rất có thể bạn đã mắc bệnh về gan.

Ngứa
Ngứa có thể được coi như một triệu chứng chung. Nhưng đó cũng là một trong những dấu hiệu sớm của bệnh ung thư gan. Điều này xảy ra chủ yếu là do ảnh hưởng của sự gia tăng bilirubin trong cơ thể. Chức năng gan suy giảm sẽ dẫn đến tăng bilirubin, gây ngứa trên da.
Gan nở rộng
Gan nằm ở vùng bên phải của bụng trên, kéo dài đến giữa. Gan nở to làm bạn có thể sờ thấy nó ở vị trí này. Bạn nên theo dõi để nhận được những lời khuyên từ bác sĩ vì đây là những dấu hiệu quan trọng của bệnh ung thư gan.
Mệt mỏi
Nếu cảm thấy mệt mỏi kéo dài đi kèm với bất kỳ triệu chứng suy giảm chức năng gan nào khác, bạn có thể đã mắc ung thư gan. Mặc dù mệt mỏi là một triệu chứng chung, nhưng rất thường gặp ở bệnh nhân ung thư gan.
Buồn nôn và nôn
Nếu bạn bị buồn nôn và nôn mửa không rõ nguyên nhân, kiểm tra xem bạn có bất kỳ triệu chứng suy giảm chức năng gan khác không. Nôn và buồn nôn thường được coi là dấu hiệu cảnh báo sớm của bệnh ung thư gan.
Sút cân
Gan là cơ quan chính giúp cơ thể chúng ta trao đổi chất. Chức năng gan suy giảm sẽ khiến bạn bị sút cân. Sút cân được coi là một trong những triệu chứng quan trọng nhất của giai đoạn đầu tiên của ung thư gan.
Vàng da
Vàng da không phải là một căn bệnh, nó là một biểu hiện lâm sàng của suy giảm chức năng gan. Chức năng gan suy giảm gây ra tích tụ bilirubin trong cơ thể. Vàng da là một trong những dấu hiệu đầu tiên của bệnh ung thư gan.

Dễ bị ung thư gan với người bị viêm gan B

Khoảng 10-20% bệnh nhân xơ gan có thể biến thành ung thư gan. Bệnh nhân bị nhiễm virus B có xác suất ung thư gan cao gấp 200 lần người bình thường. 
Ước tính hiện có khoảng 8,6 triệu người Việt Nam nhiễm virus viêm gan B. Bệnh viêm gan siêu vi B thường phát triển theo các giai đoạn: viêm gan siêu vi B cấp, viêm gan siêu vi B mạn và những người lành nhưng mang mầm bệnh trong cơ thể.
Viêm gan siêu vi B cấp thường có biểu hiện giống như cảm cúm, thỉnh thoảng có cảm giác buồn nôn, ói mửa, sụt cân, ăn kém ngon, ngứa khắp người. Người bị bệnh nặng hơn có thể gặp các triệu chứng sốt, vàng da, vàng mắt, đau bụng, đau khớp, đau cơ, nước tiểu có màu vàng sậm.

Khi chuyển sang giai đoạn viêm gan siêu vi B mạn tính thì người bệnh hầu như không có triệu chứng và luôn cảm thấy sức khỏe bình thường hoặc đôi khi có mệt mỏi, chán ăn. Hậu quả nghiêm trọng nhất của người bị viêm gan siêu vi B mạn tính là xơ gan với các biến chứng như có dịch trong ổ bụng, chảy máu đường tiêu hóa, ung thư.
Khi bệnh đã diễn tiến xơ gan thường khó hồi phục mặc dù tình trạng viêm gan được cải thiện. Vì vậy cần điều trị bệnh sớm nhằm ngăn ngừa hoặc làm chậm quá trình xơ gan. Khoảng 10-20% bệnh nhân xơ gan có thể biến thành ung thư gan. Bệnh nhân bị nhiễm virus B có xác suất ung thư gan cao gấp 200 lần người bình thường. Tại Việt Nam 60-70% ca ung thư gan có nhiễm virrus B, 20% nhiễm virus C.
Những người lành mang mầm bệnh là khi cơ thể nhiễm virus viêm gan B nhưng không có dấu hiệu hay triệu chứng viêm gan nào biểu hiện. Virus có thể ở trong cơ thể suốt đời, nhưng cũng có một lúc nào đó nó phát triển thành bệnh trong người và lây truyền cho người khác. Vì vậy cần cảnh giác bằng cách đến gặp bác sĩ mỗi 3-6 tháng tùy trường hợp để được kiểm tra.
Tùy theo quyết định của bác sĩ, một số trường hợp cần điều trị sớm và tích cực để loại trừ hoặc giảm thiểu tình trạng viêm gan, do đó ngăn ngừa, làm chậm tiến triển sang giai đoạn xơ gan, ung thư gan. Bên cạnh đó, người bệnh nên đi khám bác sĩ định kỳ nhằm đào thải toàn bộ, hoặc một phần lượng virus B trong cơ thể, đặc biệt ở trong gan những người lành có mang mầm bệnh.
Các loại thuốc sử dụng trong điều trị ung thư gan:
- Interferon: Có hiệu năng tăng cường khả năng miễn dịch, ngoài ra còn kháng virus. Khi dùng một số người bệnh có thể gặp các triệu chứng như sốt, rụng tóc, mệt... TTuy nhiên, giá thuốc cao và thời gian điều trị lâu dài, vì vậy chỉ thích hợp với những bệnh nhân có điều kiện kinh tế khá giả.
- Lamivudin: Có hiệu năng kháng virus. Thời gian đạt được mục tiêu này phụ thuộc vào từng người, ít nhất là một năm trở lên và tái phát còn có thể dùng lại. Hiện nay tỷ lệ kháng lamivudin lên tới 70% vì thế không được chỉ định nhiều nhưng cũng có khoảng 20% người bệnh hầu như không bị kháng thuốc.
- Adefovir, entecavir, telbivudin: Thời gian đạt được mục tiêu điều trị ngắn hơn lamivudin. Tỷ lệ kháng thuốc thấp hơn lamivudin và có hiệu quả với những người bệnh đã kháng với lamivudin.
- Tenofovir: Là thuốc mới nhất được EU và Mỹ đưa vào sử dụng vào năm 2008. Qua các nghiên cứu cho thấy tenofovir tốt hơn các thuốc trước đó cả về mức đạt được hiệu quả và chưa bị kháng thuốc.
- Phối hợp các loại thuốc: Gần đây, nghiên cứu về việc phối hợp thuốc trong điều trị viêm gan siêu vi B bằng cách phối hợp chất tăng cường miễn dịch (interferon - pegylat) với chất kháng virus (lamivudin) cho kết quả tốt hơn dùng riêng lẻ mỗi thuốc. Tuy nhiên phối hợp hai chất kháng virus thì cho kết quả không đều, chưa ổn định và làm tăng chi phí điều trị nên chưa áp dụng trên lâm sàng.
Lời khuyên dành cho người viêm gan siêu vi B
- Thay đổi chế độ ăn uống: Nếu là người lành mang mầm bệnh, nên hạn chế uống rượu. Người nghiện rượu mắc bệnh viêm gan B thường hay bị xơ gan hơn. Chế độ ăn bình thường là thích hợp với hầu hết trường hợp viêm gan siêu vi B. Khi có dấu hiệu xơ gan nên giảm muối trong chế độ ăn.
- Thay đổi lối sống: Người bị nhiễm viêm gan siêu vi B thường lo lắng về nguy cơ truyền bệnh sang những người xung quanh, vì siêu vi B lây nhiễm qua tiếp xúc với máu hoặc dịch tiết của bệnh nhân trong quan hệ tình dục.
Cần chú ý để tránh lây nhiễm cho người khác
- Khi phát hiện bị nhiễm siêu vi thì cần xét nghiệm để tầm soát đối với người thân như cha mẹ, anh em ruột, vợ chồng, con cái.
- Phụ nữ có thai khi bị viêm gan B có nguy cơ truyền bệnh sang cho con trong khi sinh là rất cao. Những trường hợp trẻ sinh ra mắc viêm gan B có tới 90% sẽ chuyển thành viêm gan B mạn tính. Cần phải chích ngừa cho trẻ sơ sinh trong vòng 24 giờ đầu sau sinh để hạn chế tới mức thấp nhất trường hợp lây nhiễm.
- Hiện nay đã có văcxin chủng ngừa cho những người tiếp xúc với người mang mầm bệnh. Người mang mầm bệnh cần có biện pháp phòng ngừa như không dùng chung các vật dụng cá nhân có nguy cơ lây nhiễm như bàn chải đánh răng, dao cạo râu, dụng cụ cắt móng tay, tránh làm lây máu khi bị vết thương, hãy lau sạch máu bằng thuốc sát trùng. Nên sử dụng biện pháp bảo vệ khi quan hệ tình dục.

Giảm nguy cơ ung thư gan với cà phê

Một nghiên cứu mới phát hiện, uống 3 tách cà phê mỗi ngày có thể giảm tới 50% nguy cơ mắc bệnh ung thư gan.
Tiến sĩ Carlo La Vecchia đến từ trường Đại học Milan, Italia và là người đứng đầu nghiên cứu mới, khẳng định: "Công trình của chúng tôi đã xác thực những tuyên bố trước đây rằng, cà phê tốt cho sức khỏe của bạn, đặc biệt là gan".

Theo tiến sĩ Vecchia, ảnh hưởng tích cực của cà phê đối với ung thư gan có thể gián tiếp qua khả năng phòng chống bệnh tiểu đường, một yếu tố nguy cơ gây bệnh đã được biết đến, hoặc những tác động hữu ích đến các men gan và giúp cải thiện chứng xơ gan.
Ông Vecchia và các cộng sự đã tiến hành phân tích 16 báo cáo nghiên cứu uy tín được công bố trong giai đoạn từ năm 1996 - 2012 về tổng cộng 3.153 trường hợp khác nhau. Nhóm nghiên cứu cũng xem xét dữ liệu về 900 ca ung thư biểu mô gan (HCC) - một dạng ung thư gan phổ biến nhất, xảy ra gần đây hơn.
Bất chấp tính thống nhất trong kết quả của các nghiên cứu trước đây, rất khó để xác định liệu có tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa việc uống cà phê với bệnh ung thư HCC, hay liệu mối quan hệ này có thể một phần do thực tế rằng những người mắc bệnh về gan và tiêu hóa thường tự nguyện cắt giảm lượng cà phê hấp thụ hay không.
Tuy nhiên, theo tiến sĩ Vecchia, trong bất cứ trường hợp nào, việc uống cà phê hàng ngày có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư gan tới 50% so với những biện pháp phòng ngừa khác.
Các chuyên gia cho biết, bệnh ung thư gan nguyên phát hầu như có thể phòng tránh được thông qua việc tiêm chủng ngừa virus hepatitis B, kiểm soát việc lây truyền hepatitis C và giảm uống rượu cồn. Ba bước phòng ngừa này, về nguyên tắc, có thể giúp phòng tránh tới hơn 90% nguy cơ ung thư gan nguyên phát trên toàn thế giới.
Ung thư gan là căn bệnh ung thư phổ biến thứ 6 trên thế giới và là nguyên nhân gây tử vong thứ 3 vì ung thư cho dân số toàn cầu. Việc nhiễm trùng mạn tính các virus hepatitis B và C là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ung thư gan. Các yếu tố nguy cơ có liên quan khác là rượu cồn, thuốc lá, chứng béo phì và bệnh tiểu đường.