chẩn đoán ung thư cổ tử cung

Hiển thị các bài đăng có nhãn chẩn đoán ung thư cổ tử cung. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chẩn đoán ung thư cổ tử cung. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 22 tháng 1, 2015

Triệu chứng ung thư cổ tử cung

Triệu chứng ung thư cổ tử cung

Giai đoạn đầu của ung thư cổ tử cung thường không có triệu chứng nào.
Đối với hầu hết phụ nữ, những dấu hiệu đầu tiên của ung thư cổ tử cung là khi thay đổi được phát hiện trên một Pap smear. Các Pap smear là một bài kiểm tra thường xuyên để tìm kiếm những thay đổi tiền ung thư và ung thư trong các tế bào cổ tử cung.

Phụ nữ trẻ nên nhận Pap smear thường xuyên. Đây là một cách rất hiệu quả để chẩn đoán ung thư cổ tử cung trước khi chúng trở nên nghiêm trọng. Hướng dẫn phương pháp Pap smear đã thay đổi trong những năm gần đây. Theo Thư viện Y khoa Quốc gia, các nguyên tắc này là:
Bạn sẽ nhận được Pap smear đầu tiên của bạn ở tuổi 21
Xét nghiệm này nên được lặp đi lặp lại mỗi hai năm.
Phụ nữ trên 30, hoặc với ba liên tiếp smears âm kết quả, chỉ cần kiểm tra mỗi ba năm.
Phụ nữ với các đối tác tình dục mới sẽ nhận được một smear mỗi hai năm. Điều này cũng đúng nếu đối tác của họ có các đối tác mới.
Ở những phụ nữ lớn tuổi, soi tươi có thể được kết hợp với một xét nghiệm u nhú ở người (HPV). Điều này là bởi vì hầu hết các bệnh ung thư cổ tử cung là do HPV. Nếu một người phụ nữ không có HPV, cô dường như không phát triển thành ung thư cổ tử cung trong tương lai gần. Tuy nhiên, HPV là rất phổ biến ở phụ nữ trẻ. Hầu hết các bệnh nhiễm trùng tự lành trong vòng hai năm. Do đó, các bác sĩ thường không kiểm tra phụ nữ trẻ HPV, trừ khi họ có Pap smear bất thường.
Tìm hiểu thêm về ung thư cổ tử cung tại : http://benhvienungbuouhungviet.vn/tim-hieu-benh-ung-thu/ung-thu-co-tu-cung.aspx.

Chủ Nhật, 18 tháng 1, 2015

Chẩn đoán ung thư cổ tử cung phát hiện sớm

Ung thư cổ tử cung rất khó điều trị nếu không được phát hiện sớm, nhưng khi được phát hiện sớm, hầu như 100% ung thư cổ tử cung có thể được chữa khỏi hoàn toàn. Xét nghiệm Pap là một xét nghiệm đơn giản để phát hiện ung thư cổ tử cung ở giai đoạn sớm.
Khám vùng khung chậu và xét nghiệm Pap cho phép bác sĩ phát hiện những biến đổi bất thường trong cổ tử cung. Nếu các xét nghiệm này cho thấy có một nhiễm khuẩn, bác sĩ sẽ điều trị nhiễm khuẩn (viêm cổ tử cung) này và làm lại xét nghiệm Pap vào một thời gian sau. Nếu việc thăm khám và xét nghiệm Pap gợi ý một biến đổi nào đó không phải nhiễm khuẩn, bác sĩ cho bệnh nhân làm lại xét nghiệm Pap hoặc các phương pháp khác để tìm ra vấn đề sức khoẻ là gì.
Nếu một phụ nữ có triệu chứng hoặc kết quả xét nghiệm Pap gợi ý có các tế bào tiền ung thư hoặc ung thư cổ tử cung, bác sĩ có thể tiến hành các phương pháp khác để chẩn đoán ung thư cổ tử cung.
Các phương pháp này bao gồm:
- Soi cổ tử cung: là một phương pháp được sử dụng rộng rãi để kiểm tra các vùng bất thường ở cổ tử cung. Bác sĩ sử dụng một máy soi cổ tử cung để nhìn vào cổ tử cung. Máy soi kết hợp một ánh sáng chói với một lăng kính phóng đại làm cho mô được nhìn thấy dễ dàng hơn. Soi cổ tử cung thường được thực hiện ở phòng khám của bác sĩ. Soi cổ tử cung được sử dụng rộng rãi để kiểm tra những vùng bất thường của cổ tử cung. Bác sĩ sẽ bôi một dung dịch giống dấm vào cổ tử cung trước khi soi. Bác sĩ cũng có thể phủ cổ tử cung bằng một dung dịch Iod, gọi là tét Si- le (test Schiller). Các tế bào lành chuyển thành màu nâu, các tế bào bất thường chuyển thành màu trắng hay vàng. Qui trình này được thực hiện ở phòng khám của bác sĩ.
- Sinh thiết: Bác sĩ lấy một mẫu mô của cổ tử cung để tìm các tế bào tiền ung thư và các tế bào ung thư. Các bác sĩ thường tiến hành gây tê tại chỗ để sinh thiết. Một bác sĩ giải phẫu bệnh kiểm tra mô bằng kính hiển vi. Có các phương pháp sinh thiết sau đây:
+ Sinh thiết khoan lỗ: Bác sĩ sử dụng một dụng cụ rỗng, sắc để lấy một mẫu nhỏ mô cổ tử cung.
+ Lip (LEEP): Bác sĩ sử dụng một vòng dây thép có điện để “lạng” một mảnh mô tròn, mỏng của cổ tử cung.
+ Nạo cổ trong: Bác sĩ sử dụng một dụng cụ nạo (một dụng cụ hình thìa nhỏ) để bào một mẫu mô nhỏ từ ống cổ tử cung. Một số bác sĩ dùng một bàn chải mềm, mỏng thay thế cho thìa nạo.
+ Khoét chóp: Bác sĩ lấy một mẫu mô hình chóp. Khoét chóp hoặc sinh thiết hình nón là để bác sĩ giải phẫu bệnh tìm xem có các tế bào bất thường xâm nhập xuống bên dưới lớp bề mặt của cổ tử cung không. Bác sĩ thường phải làm thủ thuật này sau khi đã gây mê toàn thân. Khoét chóp cũng có thể được sử dụng như một phương pháp điều trị đối với tổn thương tiền ung thư nếu như toàn bộ vùng bất thường có thể được lấy bỏ.
Việc lấy mô khỏi cổ tử cung có thể gây chảy máu hoặc chảy dịch. Tuy nhiên vùng đã lấy mô thường lành nhanh. Người phụ nữ có thể thấy đau nhẹ. Thuốc có thể chữa khỏi sự khó chịu này. Trong một số ít trường hợp, có thể không rõ là xét nghiệm Pap bất thường hoặc một triệu chứng ở một người phụ nữ gây nên bởi những biến đổi ở cổ tử cung hay ở nội mạc tử cung (lớp màng mỏng phủ mặt trong tử cung). Trong trường hợp này bác sĩ nong giãn rộng cổ tử cung và nạo nội mạc tử cung. Bác sĩ sử dụng một thìa nạo đưa vào buồng tử cung qua cổ tử cung đã được mở rộng để nạo mô nội mạc tử cung và nạo ống cổ tử cung để lấy mô xét nghiệm. Kỹ thuật này đòi hỏi phải gây tê tại chỗ hoặc gây mê và được thực hiện tại bệnh viện hoặc phòng khám của bác sĩ.
Tìm hiểu thêm về bệnh ung thư cổ tử cung: http://benhvienungbuouhungviet.vn/tim-hieu-benh-ung-thu/ung-thu-co-tu-cung.aspx

Bệnh Viện Ung Bướu Hưng Việt

Địa chỉ: Số 34 Đường Đại Cồ Việt, Hai Bà Trưng, Hà Nội
Điện thoại: 0462 50 07 07| Fax: 04.6280 0108 

Điều nên biết về ung thư cổ tử cung

Ung thư cổ tử cung là gì?Cổ tử cung là phần dưới của tử cung (dạ con). Ung thư phát sinh trong cổ tử cung có khả năng được chữa khỏi trong giai đoạn đầu do đó phát hiện sớm là chìa khóa giúp cải thiện tỉ lệ sống. Hầu hết các trường hợp ung thư cổ tử cung thuộc loại ung thư tế bào vảy.
Tuổi khởi bệnh
Ung thư tiền xâm lấn thường xảy ra ở phụ nữ ở cuối độ tuổi 20 - 30. Được gọi là CIN (tân sinh trong biểu mô cổ tử cung - Cervical Intraepithelial Neoplasia). Đây là những thay đổi trong lớp niêm mạc của cổ tử cung có thể dẫn đến ung thư cổ tử cung. Theo thời gian, những tổn thương tiền ung thư này có thể tiến triển và trở thành ung thư xâm lấn nếu không được điều trị.
Rủi ro và nguyên nhân
Lây nhiễm Human Papilloma Virus (HPV) là nguyên nhân hay yếu tố nguy cơ phổ biến nhất của bệnh ung thư cổ tử cung. Các virus này lây truyền qua quan hệ tình dục, bao gồm cả quan hệ tình dục bằng miệng hoặc hậu môn. Bất kỳ phụ nữ nào đã từng quan hệ tình dục đều có nguy cơ.
Các yếu tố nguy cơ khác bao gồm:
Quan hệ tình dục trước 20 tuổi
Quan hệ với nhiều người
Tiền sử mắc các bệnh nhiễm trùng lây lan qua đường tình dục
Từng quan hệ với người có tiền sử mắc bệnh nhiễm trùng lây lan qua đường tình dục và quan hệ tình dục ngoài hôn nhân.
Từng quan hệ với người có bạn tình từng bị ung thư cổ tử cung cũng được xem là có nguy cơ
Hút thuốc lá là một yếu tố có liên quan với việc tăng tỷ lệ mắc ung thư cổ tử cung.
Triệu chứng và dấu hiệu của ung thư cổ tử cung
Chảy máu bất thường ở âm đạo hoặc ngay cả sự tiết dịch âm đạo bất thường cũng có thể là dấu hiệu cần phải kiểm tra ngay. Chảy máu bất thường bao gồm chảy máu sau khi quan hệ tình dục hoặc chảy máu giữa chu kỳ kinh nguyệt. Các triệu chứng muộn xảy ra trong ung thư giai đoạn cuối bao gồm đau lưng, đau vùng chậu, giảm cân và sưng chân.
Chẩn đoán
Chẩn đoán ung thư cổ tử cung bằng phương pháp Pap smear (phết tế bào cổ tử cung) nên bắt đầu ngay sau khi phụ nữ có quan hệ tình dục. Nên kiểm tra mỗi 1-3 năm một lần tùy thuộc vào độ tuổi và số lượng thực hiện các xét nghiệm PAP smear (phết tế bào) thông thường. Trong quá trình kiểm tra này, các tế bào từ bề mặt của cổ tử cung được cào nhẹ (phết) trong quá trình kiểm tra âm đạo. Đây là một thử nghiệm nhanh chóng, đơn giản và không đau.
Nếu xét nghiệm Pap smear cho thấy bất thường, phương pháp chẩn đoán được gọi là soi cổ tử cung (tức là kiểm tra cổ tử cung bằng kính hiển vi) sẽ được thực hiện. Một số hóa chất có thể được thoa lên cổ tử cung để giúp phát hiện ra những vùng bất thường. Những vùng bất thường sau đó sẽ được sinh thiết và kiểm tra dưới kính hiển vi bởi các bác sĩ bệnh học (bác sĩ kiểm tra mô dưới kính hiển vi).
Nếu ung thư cổ tử cung được xác nhận sau khi sinh thiết, các xét nghiệm khác sẽ được sắp xếp. Bao gồm các xét nghiệm phóng xạ như chụp X-quang và chụp CT hoặc MRI vùng bụng và xương chậu để loại trừ khả năng lây lan gần hoặc xa của ung thư. Kiểm tra xương chậu dưới sự gây mê toàn thân thường được thực hiện để xác định mức độ của bệnh ung thư.
Xem thêm về ung thư cổ tử cung: http://benhvienungbuouhungviet.vn/tim-hieu-benh-ung-thu/ung-thu-co-tu-cung.aspx

Bệnh Viện Ung Bướu Hưng Việt 

Địa chỉ: Số 34 Đường Đại Cồ Việt, Hai Bà Trưng, Hà Nội 
Điện thoại: 0462 50 07 07| Fax: 04.6280 0108

Thứ Sáu, 16 tháng 1, 2015

Ung thư cổ tử cung có di truyền không?

Theo WHO/ICO HPV Information Centre 2014, ung thư cổ tử cung là một bệnh lý ác tính xếp thứ hai, chỉ sau ung thư vú ở nữ giới 15-44 tuổi. Mỗi năm có đến hơn 500.000 người được chẩn đoán mắc mới ung thư cổ tử cung và có hơn 256.000 ca tử vong vì căn bệnh này trên thế giới. Tại Việt Nam, mỗi ngày có 7 phụ nữ tử vong vì căn bệnh này.
80% phụ nữ nhiễm HPV ít nhất một lần trong đời.

Ung thư cổ tử cung không phải là căn bệnh di truyền. Gần 100% các ca ung thư cổ tử cung đều do lây nhiễm các týp vi rút HPV sinh ung thư. Có hơn 15 týp HPV gây ung thư cổ tử cung, trong đó, HPV 16, 18, 31, 33 và 45 chiếm 80% số ca ung thư. Đây là năm týp HPV gây ung thư cổ tử cung phổ biến nhất trên toàn cầu. 
HPV dễ dàng lây nhiễm qua đường tình dục, bất cứ ai có quan hệ tình dục, hoặc chỉ cần tiếp xúc ngoài da ở bộ phận sinh dục, đều có nguy cơ nhiễm HPV, dẫn đến ung thư cổ tử cung. Nguy cơ này có thể bắt đầu từ lần quan hệ tình dục đầu tiên và kéo dài suốt đời. Có đến 80% phụ nữ nhiễm HPV ít nhất một lần trong đời.

Ung thư cổ tử cung nguy hiểm nhưng có thể phòng ngừa được.

Hiện đã có vắc xin phòng ngừa HPV gây ung thư cổ tử cung. Tại Việt Nam, phụ nữ tuổi từ 9, 10 đến 25, 26, kể cả chưa lập gia đình hoặc đã có quan hệ tình dục đều có thể tiêm vắc xin phòng ngừa HPV - thủ phạm chính gây ung thư cổ tử cung. Vắc xin phòng ngừa ung thư cổ tử cung hiệu quả là vắc xin tập trung phòng nhiều týp HPV gây ung thư cổ tử cung.
Việc phòng ngừa sẽ đạt kết quả cao khi kết hợp cả phương pháp tiêm vắc xin và tầm soát, có thể bằng phết tế bào cổ tử cung định kỳ, để phát hiện kịp thời và có giải pháp điều trị ở giai đoạn sớm của bệnh.

Bệnh Viện Ung Bướu Hưng Việt

Địa chỉ: Số 34 Đường Đại Cồ Việt, Hai Bà Trưng, Hà Nội

Điện thoại: 0462 50 07 07| Fax: 04.6280 0108 


Nguyên nhân dẫn đến ung thư cổ tử cung

Gần 3.400 phụ nữ được chẩn đoán mắc bệnh ung thư cổ tử cung ở Anh mỗi năm. Nhìn chung, 2 trong số 100 bệnh ung thư được chẩn đoán ở phụ nữ là ung thư cổ tử cung. Nó là loại ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ dưới 35 tuổi. Vậy nguyên nhân gây ung thư cổ tử cung là gì?
1. Nhiễm HPV
HPV lây lan khi quan hệ tình dục và được cho là rất phổ biến.Ước tính có khoảng 1 trong 3 phụ nữ sẽ phát triển một nhiễm HPV trong vòng hai năm bắt đầu có quan hệ tình dục thường xuyên.
Hai loại HPV được biết là có nguyên nhân gây ung thư cổ tử. Đó là:
  • HPV16 – chiếm khoảng 50-55% của tất cả các trường hợp
  • HPV18 – chiếm khoảng 15-20% của tất cả các trường hợp
Hơn 11 loại HPV cũng có cơ hội cao hơn gây ung thư.

Hiện nay đã có vắc-xin để phòng ngừa nhiễm HPV . Tất cả các cô gái ở độ tuổi 12 hoặc 13 ở Anh được thường xuyên cung cấp các chủng ngừa HPV ở trường. Các vắc-xin bảo vệ chống lại các chủng HPV có nhiều khả năng gây ra ung thư cổ tử cung. Nhưng nó không bảo vệ chống lại tất cả các chủng.
2. Các yếu tố nguy cơ khác
Thực tế là nhiễm HPV là rất phổ biến nhưng ung thư cổ tử cung là tương đối phổ biến dường như cho thấy rằng chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ phụ nữ dễ bị tác động của sự nhiễm HPV. Có vẻ như là các yếu tố nguy cơ khác có ảnh hưởng đến cơ hội của một cá nhân mắc bệnh ung thư cổ tử cung.
Yếu tố nguy cơ bao gồm:
  • Hút thuốc - những người phụ nữ hút thuốc có khả năng bị ung thư cổ tử cung gấp 2 lần hơn so với người không hút thuốc, điều này có thể là do tác hại của hóa chất có trong thuốc lá trên các tế bào cổ tử cung
  • Hệ thống miễn dịch yếu - đó có thể là kết quả của việc dùng thuốc nhất định, chẳng hạn như ức chế miễn dịch, được sử dụng để ngăn chặn cơ thể từ chối các cơ quan hỗ trợ, hoặc là kết quả của sự nhiễm HIV / AIDS
  • Uống  thuốc tránh thai trong hơn năm năm - những người phụ nữ làm điều này được cho là có gấp đôi nguy cơ phát triển ung thư cổ tử cung hơn những người không uống thuốc
  • Sinh nhiều con  - những người phụ nữ có hai con có gấp đôi nguy cơ ung thư cổ tử cung so với những phụ nữ không có con
Lý do cho mối liên hệ giữa nguyên nhân gây ung thư cổ tử cung và sinh con là không rõ ràng. Một giả thuyết cho rằng những thay đổi nội tiết tố xảy ra trong khi mang thai có thể làm cho cổ tử cung dễ bị tổn thương hơn với tác động của HPV.
Xem thêm về ung thư cổ tử cung: http://benhvienungbuouhungviet.vn/tim-hieu-benh-ung-thu/ung-thu-co-tu-cung.aspx

Bệnh Viện Ung Bướu Hưng Việt

Địa chỉ: Số 34 Đường Đại Cồ Việt, Hai Bà Trưng, Hà Nội

Điện thoại: 0462 50 07 07| Fax: 04.6280 0108 

Ung thư cổ tử cung - Đừng tuyệt vọng

Ba năm trước, bà Y. được chẩn đoán mắc ung thư cổ tử cung, và bà đã trải qua hóa trị và xạ trị hơn ba tháng. Bà phải chịu đựng những biến chứng do tác dụng phụ của xạ trị.
Sáu tháng sau khi hoàn thành điều trị, ruột của bà bị thủng và bắt đầu chảy máu. Để cứu sống bà, các bác sĩ đã cắt bỏ một đoạn đại tràng và đặt một hậu môn nhân tạo vĩnh viễn.
Bà chỉ vừa làm quen với việc có hậu môn nhân tạo thì lại bắt đầu bị chảy máu âm đạo. Bà Y. nghĩ  là do tác dụng phụ của xạ trị, nhưng không phải, vì đã hơn hai năm từ khi kết thúc xạ trị.
Nỗi sợ hãi lớn nhất của bà Y. đã xảy ra như dự kiến khi bà đến gặp bác sĩ và phát hiện ung thư đã tái phát. Trong 12 tháng tiếp theo, bà Y. đã trải qua hóa trị để ngăn chặn bệnh ung thư, và được các bác sĩ cho biết việc điều trị không tiến triển tốt.
Bà được thông báo để chuẩn bị cho điều tồi tệ nhất và chấm dứt việc điều trị vì không thể làm gì khác hơn.

Tháng 2/2009, bà đến Singapore và tư vấn với bác sĩ. Bệnh nhân nhớ lại: "Điều đầu tiên bác sĩ nói với tôi là tôi không giống như một bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối. Thông thường, nếu bệnh nhân ung thư cổ tử cung giai đoạn muộn, tôi sẽ biết ngay bằng cách nhìn, và bà thì không phải như vậy".
Bệnh nhân được chụp PET scan. Kết quả cho thấy ung thư còn giới hạn trong cổ tử cung.
Các kết quả rất đáng khích lệ mà ngay cả bác sĩ cũng rất ngạc nhiên. Bà Y. đến gặp hai bác sĩ mà bác sĩ chính đề nghị.
Cả hai bác sĩ phẫu thuật đều nhất trí rằng họ không chỉ tự tin loại bỏ bệnh ung thư bằng phẫu thuật, mà còn có thể đóng hậu môn giả để bà Y. có thể đại tiện bình thường.
Tháng 3/2009, phẫu thuật đã thành công và khi trở lại để theo dõi vào tháng 7/2009, bà Y. hoàn toàn khỏi bệnh!
Xem thêm về ung thư cổ tử cung: http://benhvienungbuouhungviet.vn/tim-hieu-benh-ung-thu/ung-thu-co-tu-cung.aspx

Bệnh Viện Ung Bướu Hưng Việt

Địa chỉ: Số 34 Đường Đại Cồ Việt, Hai Bà Trưng, Hà Nội

Điện thoại: 0462 50 07 07| Fax: 04.6280 0108 

Ung thư cổ tử cung khó nhận biết.

Ung thư cổ tử cung khó nhận biết do không gây đau và không có những dấu hiệu khác lạ chính là đặc điểm nguy hiểm nhất của căn bệnh này.  
Tại Việt Nam, ước tính cứ 100 nghìn phụ nữ thì có 20 trường hợp mắc bệnh và 11 trường hợp tử vong.
Nguyên nhân chính gây ung thư cổ tử cung là loại virus có tên Human papillomavirus (viết tắt: HPV). Virus này thường gây nhiễm ở phụ nữ có độ tuổi từ 30 đến 60 đã qua quan hệ tình dục.
Các xét nghiệm gần đây, cho thấy, HPV có mặt trong 99,7% các trường hợp ung thư cổ tử cung. Virus này có 150 chủng khác nhau, trong đó khoảng 40 chủng lây truyền qua đường tình dục và có thể gây nên tổn thương ở âm hộ, âm đạo, cổ tử cung và dương vật... Đặc biệt, chủng 16 và 18 là thủ phạm gây ung thư cổ tử cung.
HPV dễ bị lây nhiễm hơn cả HIV, bởi ngoài lây truyền qua đường tình dục, virus này nhiễm trực tiếp qua da trong những trường hợp dùng chung quần áo, dụng cụ cắt móng tay... Tại Viêt Nam, mỗi ngày có 17 phụ nữ được chẩn đoán ung thư cổ tử cung và 9 người chết vì căn bệnh này
Từ các nghiên cứu thực tiễn, các bác sĩ cho rằng, với loại virus này, việc dùng bao cao su tỏ ra không hữu hiệu. Tuy nhiên hiện nay, phương pháp thử nghiệm tế bào cổ tử cung đã có thể giúp phát hiện ung thư ngay từ lúc bệnh mới hình do virus HPV. Chính vì thế, những phụ nữ đã có quan hệ tình dục hoặc trong độ tuổi dễ nhiễm bệnh, cần đến các bệnh viện chuyên khoa phụ sản mỗi năm ít nhất 1 lần để thăm khám để sớm khắc chế lây lan.
Theo một số bác sĩ, tính đến thời điểm hiện nay, uống văcxin có chức năng chống nhiễm và tái nhiễm virus HPV vẫn được xem là phương pháp phòng bệnh hữu hiệu nhất. Tại Việt Nam, Gardasil và Cervarix là hai loại văcxin có thể khắc chế được đến 99% sự tấn công của HPV gây ung thư cổ tử cung. 

Bệnh Viện Ung Bướu Hưng Việt

Địa chỉ: Số 34 Đường Đại Cồ Việt, Hai Bà Trưng, Hà Nội

Điện thoại: 0462 50 07 07| Fax: 04.6280 0108 

Phương pháp chẩn đoán ung thư cổ tử cung mới.

Ung thư cổ tử cung đứng hàng thứ 3 trong số ung thư của bộ máy sinh dục nữ, được sàng lọc sớm bằng soi phiến đồ âm đạo, được chẩn đoán xác định bằng soi cổ tử cung và sinh thiết. Tuy nhiên để quyết định chiến lược điều trị như khoét chóp, cắt toàn bộ tử cung, tia xạ- hóa trị liệu đơn độc hay kết hợp các phương pháp, cần phải đánh giá được giai đoạn của ung thư cổ tử cung. Chụp cộng hưởng từ có từ trường cao 1.5 Tesla hiện đang là phương pháp chẩn đoán ung thư cổ tử cung bằng hình ảnh tối ưu để giúp phân giai đoạn ung thư.
Đánh giá đúng để có chiến lược điều trị đúng
Ung thư cổ tử cung là bệnh ung thư hay gặp ở phụ nữ, chỉ đứng sau ung thư vú và ung thư buồng trứng, đặc biệt hay gặp ở các nước kém phát triển. Về chẩn đoán, ngoài dựa vào triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân (thường là rong kinh hay ra huyết bất thường) và thăm khám âm đạo, hiện nay phương pháp để sàng lọc sớm ung thư cổ tử cung là phương pháp soi tế bào phiến đồ âm đạo (Pap), để chẩn đoán xác định, người ta dùng soi cổ tử cung và sinh thiết. Tuy nhiên, để quyết định chiến lược điều trị ung thư cổ tử cung cần phải đánh giá được giai đoạn của bệnh theo bảng phân giai đoạn của Hiệp hội sản phụ khoa quốc tế (FIGO- International Federation of Gynecology and Obstetrics) mà trên thế giới hiện đang dùng. Đây chính là nhiệm vụ của chẩn đoán hình ảnh mà trong đó đặc biệt là chụp cộng hưởng từ. Chụp cộng hưởng từcó từ trường cao 1.5 Tesla sẽ đánh giá được các yếu tố: kích thước khối u, mức độ xâm lấn của u vào lớp cơ cổ tử cung, đáy dây chằng rộng, thành bên tiểu khung, các tạng lân cận (bàng quang, trực tràng), xâm lấn vào ống âm đạo. Trên cơ sở đó sẽ giúp bác sĩ điều trị có được chỉ định điều trị phù hợp nhất.
Chiến lược điều trị ung thư cổ tử cung hoàn toàn phụ thuộc vào giai đoạn của bệnh. Trước đây và trong phần lớn các bệnh viện tại Việt Nam hiện nay, các bác sĩ lâm sàng vẫn dựa vào thăm khám âm đạo và sinh thiết để đánh giai đoạn của bệnh. Tuy nhiên sinh thiết chỉ đánh giá được các giai đoạn ung thư tại chỗ và ung thư giai đoạn tiền lâm sàng, còn thăm khám âm đạo đánh giá các giai đoạn tiến triển hơn của bệnh có độ chính xác rất thấp (độ chính xác 68- 83%) ở ung thư giai đoạn lâm sàng, khi kích thước khối u ở mức độ 4cm. Trong giai đoạn ung thư phát triển ra ngoài cổ tử cung, chỉ ở 2/3 trên âm đạo và chưa tới thành bên tiểu khung thì chỉ đánh giá được 46-61%.
Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác như siêu âm hay chụp cắt lớp vi tính cũng có rất ít giá trị trong đánh giá mức độ xâm lấn tại chỗ của UTCTC. Trong khi đó, cộng hưởng từ từ trường cao 1.5 Tesla có độ phân giải cao, có chuỗi xung T1 xóa mỡ, có khả năng đánh giá được các yếu tố: kích thước khối u, mức độ xâm lấn của u vào lớp cơ, vào đáy dây chằng rộng, thành bên tiểu khung, các tạng lân cận (bàng quang, trực tràng), vào ống âm đạo sẽ là phương pháp chẩn đoán hình ảnh tối ưu để giúp phân giai đoạn ung thư cổ tử cung.
Xem thêm về ung thư cổ tử cung tại: http://benhvienungbuouhungviet.vn/tim-hieu-benh-ung-thu/ung-thu-co-tu-cung.aspx

Thứ Năm, 15 tháng 1, 2015

Chẩn đoán ung thư cổ tử cung bằng phương pháp xét nghiệm Liqui-Prep Pap Test

Nhằm nâng cao chất lượng chẩn đoán sớm bệnh ung thư cổ tử cung, có xét nghiệm phát hiện sớm ung thư cổ tử cung Liqui-Prep Pap Test vào phục vụ chẩn đoán ung thư cổ tử cung.
Ung thư cổ tử cung là một trong những bệnh ung thư phụ khoa thường gặp ở phụ nữ trong độ tuổi 35 trở lên. Trên thế giới, cứ 2 phút lại có một phụ nữ chết do ung thư cổ tử cung. Tại Việt Nam, ước tính cứ 100.000 phụ nữ thì có 20 trường hợp mắc bệnh UTCTC và 11 trường hợp tử vong. Một số lý do dẫn đến tỉ lệ mắc bệnh ung thư cổ tử cung cao bao gồm số phụ nữ tham gia khám phụ khoa định kỳ để được tầm soát ung thư còn thấp, các chương trình tầm soát cũng chưa được bao phủ rộng, ý thức phòng bệnh ung thư cổ tử cung ở phụ nữ còn hạn chế do thiếu những chương trình tuyên truyền giáo dục.
Ung thư cổ tử cung có thể xảy ra với bất kỳ ai và đặc biệt, bệnh thường gặp ở phụ nữ ở 35 – 40 tuổi trở đi. Tại Việt Nam, ung thư cổ tử cung là ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ lứa tuổi 15 – 44 Đây là giai đoạn cực kỳ quan trọng trong cuộc đời của một người phụ nữ với nhiều thiên chức lớn lao: làm vợ, làm mẹ, là người chăm sóc gia đình và hơn thế nữa, ở độ tuổi này phụ nữ cũng đồng thời đã tạo dựng được sự nghiệp của mình.Nhiễm virus Human papillomavirus (HPV) được xác định là nguyên nhân cần thiết gây Ung thư cổ tử cung có thể xảy ra với bất kỳ ai và đặc biệt, bệnh thường gặp ở phụ nữ ở 35 – 40 tuổi trở đi. Tại Việt Nam, ung thư cổ tử cung là ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ lứa tuổi 15 – 44 Đây là giai đoạn cực kỳ quan trọng trong cuộc đời của một người phụ nữ với nhiều thiên chức lớn lao: làm vợ, làm mẹ, là người chăm sóc gia đình và hơn thế nữa, ở độ tuổi này phụ nữ cũng đồng thời đã tạo dựng được sự nghiệp của mình.Nhiễm virus Human papillomavirus (HPV) được xác định là nguyên nhân cần thiết gây ung thư cổ tử cung. Một số yếu tố được xem là tăng nguy cơ nhiễm HPV và phát triển ung thư cổ tử cung như phụ nữ có quan hệ tình dục sớm (trước 18 tuổi) hoặc quan hệ với nhiều người; dùng thuốc tránh thai kéo dài; sinh đẻ nhiều (từ trên 4 lần); hút thuốc lá; tình trạng suy giảm miễn dịch như nhiễm HIV, mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, đặc biệt là viêm sinh dục do nhiễm Trichomonas, Chlamydia trachomatis, Herpes simplex virus type 2 (HSV2)…Với những tiến bộ của y khoa hiện đại, căn bệnh này có thể được chữa khỏi nếu bệnh được phát hiện sớm. Tuy nhiên ở giai đoạn muộn ung thư cổ tử cung lại rất khó chữa. Kể từ khi xét nghiệm sàng lọc ung thư cổ tử cung (xét nghiệm tế bào học cổ tử cung hay còn gọi là xét nghiệm Pap) ra đời và ứng dụng rộng rãi trong cộng đồng thì tỷ lệ ung thư cổ tử cung đã giảm một cách đáng kể.


Ung thư cổ tử cung không xảy ra đột ngột mà âm thầm trải qua các giai đoạn từ lúc nhiễm HPV, gây nên những biến đổi bất thường ở tế bào cổ tử cung, các tổn thương tiền ung thư rồi đến ung thư, kéo dài trung bình từ 10 – 15 năm. Đặc biệt giai đoạn tiền ung thư hầu như không có triệu chứng gì, do đó chị em không thể nhận biết mình mắc bệnh nếu không đi khám phụ khoa. Khi đã ở những giai đoạn muộn, bệnh nhân có thể có những biểu hiện như ra huyết trắng có mùi hôi, có lẫn máu, chảy máu âm đạo sau giao hợp hoặc sau khi làm việc nặng dù không đang ở chu kỳ kinh nguyệt. Nặng hơn có thể chảy dịch có lẫn máu ở âm đạo, kèm theo đau bụng, lưng, vùng chậu và chân. Nếu chị em thấy mình có bất kỳ dấu hiệu nào kể trên thì hãy đến gặp bác sĩ ngay. Không nên coi thường và bỏ qua những triệu chứng này. Khi các triệu chứng bị bỏ qua thì ung thư sẽ có thời gian để tiến triển đến những giai đoạn muộn hơn và việc điều trị sẽ càng khó khăn.
Tìm hiểu thêm về phương pháp chẩn đoán ung thư cổ tử cung tại : http://benhvienungbuouhungviet.vn/tim-hieu-benh-ung-thu/ung-thu-co-tu-cung/chan-doan-ung-thu-co-tu-cung.aspx

Chẩn đoán ung thư cổ tử cung qua các giai đoạn

Nếu gặp các dấu hiệu và triệu chứng của ung thư cổ tử cung hoặc nếu một thử nghiệm Pap đã cho thấy tế bào ung thư, có thể trải qua các xét nghiệm để chẩn đoán ung thư hơn nữa. Để  chẩn đoán ung thư cổ tử cung, bác sĩ có thể:
Kiểm tra cổ tử cung. Trong một kiểm tra gọi là Soi cổ tử cung, bác sĩ sử dụng một kính hiển vi đặc biệt (colposcope) để kiểm tra cổ tử cung tìm các tế bào bất thường. Nếu các khu vực khác thường được xác định, bác sĩ có thể lấy một mẫu nhỏ các tế bào để phân tích (sinh thiết).
Lấy một mẫu tế bào cổ tử cung. Trong thủ tục sinh thiết bác sĩ loại bỏ một mẫu tế bào bất thường từ cổ tử cung bằng cách sử dụng các công cụ đặc biệt. Trong một loại sinh thiết, bác sĩ sử dụng một con dao tròn để loại bỏ một phần nhỏ cổ tử cung. Các loại khác đặc biệt của sinh thiết có thể được sử dụng tùy thuộc vào vị trí và kích thước vùng bất thường của tế bào.
Hủy bỏ một khu vực hình nón của các tế bào cổ tử cung.  Sinh thiết nón bởi vì nó liên quan đến việc tham gia một mẫu hình nón cổ tử cung, cho phép bác sĩ có được lớp sâu hơn của các tế bào cổ tử cung để thử nghiệm. Bác sĩ có thể sử dụng dao mổ, laser hoặc điện khí hóa dây thắt để loại bỏ các mô.
Chẩn đoán giai đoạn
Nếu bác sĩ xác định rằng bị  ung thư cổ tử cung, sẽ trải qua các xét nghiệm thêm để xác định xem bệnh ung thư đã lây lan và mức độ nào. Giai đoạn ung thư là một yếu tố quan trọng trong quyết định xử lý. Kiểm tra giai đoạn bao gồm:
Hình ảnh. Các xét nghiệm như X -quang, chụp cắt lớp vi tính (CT) và hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) giúp bác sĩ xác định xem bệnh ung thư đã lan tràn ra ngoài cổ tử cung.
Kiểm tra bàng quang và trực tràng. Bác sĩ có thể sử dụng kỹ thuật đặc biệt để xem bên trong bàng quang (soi bàng quang) và trực tràng.
Một giai đoạn ung thư, thường là một chữ số La Mã. Các giai đoạn của ung thư cổ tử cung bao gồm:
Giai đoạn 0. Cũng được gọi là ung thư biểu mô tại chỗ hoặc ung thư xâm lấn, ung thư này sớm là nhỏ và giới hạn trong bề mặt cổ tử cung.
Giai đoạn I. Ung thư là giới hạn trong cổ tử cung.
Giai đoạn II. Ung thư ở giai đoạn này bao gồm cổ tử cung và tử cung, nhưng không lây lan vào thành khung chậu hoặc phần dưới của âm đạo.
Giai đoạn III. Ung thư ở giai đoạn này đã di chuyển vượt ra ngoài cổ tử cung và tử cung vào thành khung chậu hoặc phần dưới của âm đạo.
Giai đoạn IV. Ở giai đoạn này, ung thư đã lan đến các cơ quan gần đó, chẳng hạn như bàng quang hoặc trực tràng, hoặc nó đã lan rộng đến các vùng khác của cơ thể, như phổi, gan hoặc xương.

Thứ Tư, 14 tháng 1, 2015

Các phương pháp chẩn đoán ung thư cổ tử cung

Việc phát hiện sớm ung thư cổ tử cung có vai trò rất quan trọng trong việc điều trị bệnh. Thông thường, việc chẩn đoán ung thư cổ tử cung được thực hiện bởi các phương pháp sau:
- Phiến đồ âm đạo PAP Smear (phết tế bào âm đạo) là phương pháp chủ yếu để phát hiện những biến đổi tiền ung thư hoặc ung thư cổ tử cung giai đoạn sớm.
- Có bất thường khi biểu mô tế bào vảy vùng cổ tử cung hoặc âm đạo không có glycogen, không bắt màu khi nhuộm I-ốt. Khi đó cần nhanh chóng làm sinh thiết.
- Sinh thiết được thực hiện bằng cách lấy các mô ở của tử cung hoặc cổ tử cung, tiến hành kiểm tra cắt lớp hoặc kiểm tra bệnh lí.
- Soi cổ tử cung không trực tiếp phát hiện được ung thư cổ tử cung, nhưng có thể giúp ích cho việc lựa chọn vị trí để tiến hành sinh thiết.
Các triệu chứng thường gặp của ung thư cổ tử cung như:
- Thông thường những người bị ung thư cổ tử cung đều có viêm loét cổ tử cung.
- 80% người bệnh có hiện tượng ra máu âm đạo, thường là sau khi quan hệ tình dục hoặc khi kiểm tra phụ khoa.
- Mãn kinh đã lâu, âm đạo đột nhiên ra máu bất thường.
- Vùng bụng dưới hoặc vùng eo lưng thường đau mỏi, đau mỏi tăng lên trong kì kinh hoặc khi đi vệ sinh.
- Khí hư nhiều, màu sắc bất thường và có mùi khó chịu.
Tìm hiểu thêm về việc chẩn đoán ung thư cổ tử cung tại: http://benhvienungbuouhungviet.vn/tim-hieu-benh-ung-thu/ung-thu-co-tu-cung/chan-doan-ung-thu-co-tu-cung.aspx