điều trị ung thư vú

Hiển thị các bài đăng có nhãn điều trị ung thư vú. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn điều trị ung thư vú. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 22 tháng 12, 2014

Bệnh nhân ung thư vú đầu tiên chữa khỏi bệnh nhờ cấy tế bào gốc ở Việt Nam

Chị Đinh Thị Liễu là bệnh nhân ung thư vú đầu tiên ở Việt Nam được chữa khỏi bệnh nhờ phương pháp cấu tế bào gốc tạo máu tự.
Chiều 11/12, bà Đinh Thị Lệ Thanh - Phó chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An đã tặng hoa chúc mừng tập thể cán bộ y, bác sĩ bệnh viện Ung bướu Nghệ An và bệnh nhân Đinh Thị Liễu (SN 1962 tuổi, trú K1, thị trấn Yên Thành, Nghệ An) – bệnh nhân ung thư vú (K vú) đầu tiên ở Việt Nam được ghép tế bào gốc tạo máu tự thân.
Đại tá, PGS.TS.BS Nguyễn Trung Chính, Uỷ viên thường vụ Hội ung thư Việt Nam, nguyên Chủ nhiệm khoa Ung bướu BVTW QĐ108; hiện là cố vấn cao cấp BVUB Nghệ An cho biết: Chị Liễu nhập viện từ tháng 9/2013 và được chẩn đoán xác định là ung thư vú (K vú phải), thể ống xâm nhập độ II, T1N1M0.
http://benhvienungbuouhungviet.vn/

Theo chị Liễu cho biết: trong thời gian mắc bệnh, người thân vô cùng lo lắng, cuộc sống gia đình hoàn toàn đảo lộn, việc buôn bán ngưng trệ; sức khỏe càng giảm sút trầm trọng. Nhưng giờ đây, niềm hạnh phúc như vỡ òa bởi sau quá trình điều trị, bệnh nhân đã khỏe mạnh hoàn toàn, ăn uống tốt.
“Hiện sức khoẻ tôi rất tốt. Trong người trở lại bình thường. Tôi rất chân thành cảm ơn BV Ung bướu Nghệ An, cảm ơn đội ngũ bác sỹ, cán bộ…”, bệnh nhân Liễu chia sẻ.
Cuối tháng 8/2014, Hội đồng khoa học bệnh viện ung bướu cùng với PGS.TS Nguyễn Trung Chính quyết định ghép tế bào gốc tự thân cho bệnh nhân.
Đầu tháng 9/2014, chị Đinh Thị Liễu đã được điều trị huy động tế bào gốc. Sau đó, được tiến hành gạn tách tế bào gốc kết hợp đếm CD34+ đạt tiêu chuẩn. Theo đó, tiến hành xử lý tế bào gốc và đưa vào bảo quản ở -196 độ; trong thời gian đó tiếp tục theo dõi và nâng đỡ cơ thể cho bệnh nhân.
Ngày 12/11/2014, bệnh nhân Liễu được tiến hành điều trị điều kiện, đồng thời lúc này đưa bệnh nhân vào phòng vô trùng tuyệt đối (cấy khuẩn âm tính - không có vi khuẩn). 
Đến 8h ngày 19/11/2014, quá trình ghép kéo dài 1 giờ diễn ra tốt đẹp. Sau đó, bệnh nhân được theo dõi sức khỏe.
Ngày 11/12/2014, Hội đồng bệnh viện đã kiểm tra lâm sàng và xét nghiệm bệnh nhân Liễu với kết quả hoàn toàn bình thường. Do vậy, Hội chẩn bệnh viện đã quyết định cho bệnh nhân ra viện.
“Hiện bệnh nhân Liễu khoẻ mạnh hoàn toàn, ăn uống tốt… Đây là ca ghép tế bào gốc tự thân cho bệnh nhân K vú đầu tiên tại Việt Nam”, BS Chính cho biết.

Thứ Tư, 17 tháng 12, 2014

Phương pháp cơ bản phát hiện ung thư vú

Trong thời đại ngày nay, phụ nữ nên trang bị cho mình kỹ năng tự khám vú, giúp phát hiện bệnh sớm (khả năng trị khỏi bệnh cao) thông qua tìm hiểu các triệu chứng ung thư vú. Phụ nữ nên bắt đầu tự khám vú ở lứa tuổi đôi mươi và trong suốt cuộc đời. Nếu thấy mình có những triệu chứng mang hiểu hiện của ung thư vú thì cũng đừng lo lắng thái quá mà nên đi kiểm tra định kỳ (khám rà tìm hay gọi là tầm soát). Phát hiện sớm ung thư, sớm tìm phương pháp chữa trị ung thư vú phù hợp, và hiệu quả nhất.
Phát hiện sớm ung thư vú trên qua 2 phương pháp kết hợp: Tự kiểm tra ung thư v và khám tầm soát ung thư vú tại các cơ sở y tế chuyên khoa.
Các bước hướng dẫn tự kiểm tra vú định kỳ hàng tháng tại nhà:
Phương pháp cơ bản phát hiện ung thư vú
1- Tự kiểm tra ung thư vú
Bước 1: Kiểm tra ngoại hình phát hiện sớm dấu hiệu ung thư vú .
- Hai bên ngực trái và phải có đối xứng không?
- Da vùng ngực có bị nhăn nheo, căng, viêm loét hay sần sùi không?
- Đầu vú có lõm xuống, tiết dịch lạ hay không?
Bước 2: Đứng kiểm tra bằng cách sờ phát hiện sớm dấu hiệu ung thư vú
- Dùng ngón tay cái và ngón trỏ vê nhẹ đầu ngực
- Ấn đầu ngực xuống, xem có thấy xuất hiện khối u hay không?
- Bóp nhẹ núm vú kiểm tra xem có tiết dịch không?
Bước 3: Nằm sờ phát hiện sớm ung thư vú
- Khi nằm xuống dưới đầu không kê gối.
- Đệm một chiếc gối nhỏ dưới cẳng tay trái, bàn tay trái để ở vị trí sau não.
- Phương thức kiểm tra ung thư vú giống như vừa mô tả ở phần đứng kiểm tra
Bước 4: Chú ý
- Nên kiểm tra theo hướng ấn, xoay tròn, miết trượt trên da. Sau đó dùng ngón trỏ, ngón giữa, ngón đeo nhẫn của tay còn lại để kiểm tra tương tự
Nếu thấy những dấu hiệu ung thư vú như trên, bạn nên tiến hành khám soát ung thư vú .
2- Khám tầm soát ung thư vú
- Chụp nhũ ảnh
Chụp nhũ ảnh là dùng một máy phát ra tia X chụp hình ảnh của tuyến vú để phát hiện những tổn thương. Lượng tia X phát ra từ máy rất nhỏ nên tương đối an toàn. Đây là phương tiện duy nhất được chứng mình có hiệu quả trong việc tầm soát ung thư vú . Ưu điểm của phương pháp này phát hiện tổn thương ung thư vú còn rất sớm biểu hiện bằng những đốm vôi nhỏ trong tuyến vú.
- Siêu âm
Siêu âm có vai trò quan trọng trong việc phát hiện sớm ung thư vú. Khi phát hiện thấy các triệu chứng ung thư vú , bạn người bệnh thường Siêu âm vì chi phí thấp lại hiệu quả với phụ nữ có mô tuyến vú dày và định vị sinh thiết tổn thương. Siêu âm có nhược điểm là phụ thuộc vào khả năng của người đọc và không phát hiện những tôn thương rất sớm của ung thư vú dạng đốm vôi nhỏ. ở Việt Nam, siêu âm rất có giá trị trong chuẩn đoán sớm vì phần lớn phụ nữ thường đến khám bệnh khi đã sờ thấy bướu nên có thể khảo sát dễ dàng bằng siêu âm.

Chiến thắng của những phụ nữ ung thư vú

Chị Nguyễn Thị Ngọc, sinh năm 1965 tại Hải Phòng. Năm 18 tuổi, chị bị tai nạn phải cưa mất một chân. Chị đã kiên trì tập luyện và đi được bằng chân giả. 5 năm trước, chị như chết lặng khi biết mình bị ung thư vú . "Bị cụt chân và ung thư vú nhưng tôi có người chồng tuyệt vời và hai con ngoan", chị tâm sự. Cứ 5h sáng hàng ngày, anh chị lại cùng đạp xe quanh hồ Tam Bạc để rèn luyện sức khỏe, trò chuyện.
chien thang ung thu vu
Sau khi bị cưa chân và điều trị ung thư vú, chị Ngọc trải qua nhiều công việc, từ thợ may, làm tóc, bán hàng. Hiện tại, chị làm nhiệm vụ chăm sóc khách hàng cho một hãng điện thoại tại Hải Phòng. Chị hài lòng với công việc và luôn nỗ lực hết mình để hoàn thành tốt mọi việc.
chien thang ung thu vu
Điều trị ung thư vú khiến mái tóc rụng hết, nhưng chị không lấy làm buồn mà tự tạo cho mình phong cách rất "ngầu"
Chị Ngọc và chiếc chân giả gắn bó bao năm. Nhìn chị với nụ cười thường trực trên môi, không ai nghĩ chị đã vượt qua bao đau đớn, sợ hãi... của bệnh tật.
chien thang ung thu vu
Tế bào ung thư di căn vào xương khiến chị đau nhức, yoga cho chị sức khỏe và sự tĩnh lặng trong tâm hồn. "Bạn cần tự chăm sóc sức khỏe và cứu lấy bản thân, trước khi trông chờ vào người khác", người phụ nữ đã chiến thắng được nỗi sợ hãi bệnh tật của chính mình nhắn nhủ.
Vốn luôn tự hào về mái tóc dài của mình, Hương (sinh năm 1989), quê Vĩnh Phúc đã cắt tóc ngắn trước ngày bắt đầu vào viện chữa trị ung thư vú (15/1/20013). Cô gái 24 tuổi tự nhận trước đây không quan tâm lắm tới sức khỏe, thấy như "sét đánh ngang tai" khi nghe thông báo bị căn bệnh này lúc tuổi đời còn quá trẻ.
chien thang ung thu vu

Giờ Hương đã quen với mái tóc ngắn của mình, lúc nào cũng thích gội đầu, thích đứng trước gương. Hương thử vuốt keo xem có cá tính và phù hợp với gương mặt rạng rỡ này không. Nhiều người từng ngạc nhiên khi bắt gặp cô luôn một mình đi chữa bệnh ở Bệnh viện K, với nụ cười thường trực trên môi.
chien thang ung thu vu
Cô gái trang điểm trước khi ra ngoài đi chơi với bạn. Đã phẫu thuật và xạ trị , ngay vừa kết thúc đợt điều trị, Hương bắt đầu tìm kiếm công việc. Thời gian điều trị dài vừa qua khiến cô phải tạm dừng hết mọi việc.
chien thang ung thu vu
Hương rạng rỡ với mái tóc giả mới.
Từ khi tham gia Mạng lưới ung thư vú Việt Nam do Thương Sobey - một phụ nữ ung thư vú giai đoạn 4 sáng lập, Hương hay tham gia các hoạt động tuyên truyền giúp phụ nữ nhận thức được căn bệnh này để biết cách phát hiện sớm. "Hãy luôn yêu và lắng nghe cơ thể mình", cô gái nhắn nhủ.

Theo nguồn : http://benhvienungbuouhungviet.vn/tim-hieu-benh-ung-thu/ung-thu-vu/chien-thang-cua-nhung-phu-nu-ung-thu-vu.aspx

Lựa chọn giữa điều trị bảo tồn tuyến vú (BCT) và phẫu thuật cắt tuyến vú triệt để (MRM)

Tuy nhiên, theo ước tính thì có khoảng dưới 60% bệnh nhân ung thư vú giai đoạn sớm được điều trị bằng BCT. Một số bằng chứng cho thấy có thể b ác sĩ khuyến khích bệnh nhân lựa chọn MRM hơn là BCT hoặc chính bệnh nhân thích MRM hơn BCT. Ngoài ra, việc lựa chọn BCT còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố địa lý và kinh tế xã hội.
Mặc dù có tỉ lệ sống sót tương đương, nhưng một số yếu tố cần được xem xét khi quyết đinh BCT hay MRM là lựa chọn điều trị ung thư vú tốt hơn cho tường bệnh nhân khu trú. 

1. Bệnh sử và khám lâm sàng
Bệnh sử và khám lâm sàng rất hữu ích trong việc xác định tình trạng sức khỏe chung và các tình trạng bệnh lý khác của bệnh nhân. Một số yếu tố gây ung thư vú nhất định có thể quyết định nên lựa chọn điều trị bằng BCT hay MM thì tốt hơn. Chỉ riêng tuổi của bệnh nhân không đủ để xác định lựa chọn BCT hay MRM là tốt hơn.
a. Kết quả chụp X-quang tuyến vú
Phim chụp tuyến vú trước phẫu thuật có vai trò hết sức quan trong để xác định kích thước, phạm vi và các đặc điểm khác của khối u là những yếu tố có thể ảnh hưởng tới quyết định lựa chọn BCT hay MRM.
b. Xét nghiệm vi thể khối u
Xét nghiệm vi thê bệnh phẩm khối u lấy qua sinh thiết hay khi phẫu thuật có thể xác định các yếu tố giúp cho việc quyết định nên lựa chọn BCT hay MRM. Chẳng hạn tình trạng còn sót tế bào ung thư ở mép cắt. Nếu còn sót nhiều tế bào ung thư sau khi cắt bỏ, một lượng mô lớn thì có thể nên chọn MRM.
2. Nhu cầu và nguyện vọng của người bệnh
Mỗi bệnh nhân cần thảo luận với bác sĩ nếu có nguyện vọng bảo tồn tuyến vú. Điều quan trọng là phải cân nhắc xem việc lựa chọn điều trị ung thư vú: BCT hay MRM có ảnh hưởng đến hiệu quả chữa trị ung thư vú , sự tự tin, hoạt động tình dục và chất lượng cuộc sống chung của người bệnh hay không.
Trong việc cân nhắc về lợi ích và nguy cơ của phương pháp điều trị BCT và MRM cần chú ý đến các điểm chính sau:
- Thời gian sống sót lâu dài sau ung thư vú
- Nguy cơ và hậy quả của tái phát tại chỗ
- Điều chỉnh tâm lý với điều trị (bao gồm cả sự sợ hãi ung thư sẽ tái phát)
- Kết quả thẩm mỹ có thể có
- Điều chỉnh quan hệ tình dục
Đối với hầu hết bệnh nhân, khả năng ung thư vú khu trú còn sót là như nhau khi điều trị bằng BCT hoặc MRM; ngược lại, MRM có thể có ảnh hưởng đáng kể tới chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Cảm nhận về ung thư vú của bệnh nhân chọn BCT hay MRM đều căng thảng như nhau. Tuy nhiên, bệnh nhân lựa chọn BCT dường như nhìn nhận hình ảnh cơ thể của mình lạc quan hơn và ít có thay đổi ham muốn tình dục hơn so với những người lựa chọn MRM.
3. Các yếu tố ủng hộ lựa chọn
Một số yếu tố lâm sàng ủng hộ rõ ràng nên chọn phương pháp điều trị MRM hơn là BCT do các lý do bệnh lý, chẳng hạn:
- Có từ hai khối u riêng biệt trở lên ở các vị trí khác nhau trên vú
- KHối u lan tỏa xâm lấn vào mô tuyến vú
- Đã xạ trị vào mô vú hoặc lồng ngực trước đó và do đó không nên tiếp tục xạ trị.
- Có thia ở ba tháng đầu hoặc ba tháng thứ hai và do đó không nên xạ trị.
- Còn sót nhiều tế bào ung thư trong phẫu thuật bảo tồn vú mặc dù đã cắt bỏ một lượng mô lớn.
Một số yếu tố lâm sàng ủng hộ phần nào nên chọn điều trị ung thư vú MRM so với BCT do tình trạng bệnh lý của từng cá thể, tuy nhiên có một số trường hợp ngoại lệ:
- Một số bệnh tạo keo (tự miễn) có thể có những tác dụng phụ đáng kể khi xạ trị; phụ nữ bị xơ cứng bì và lupus ban đỏ hệ thống hoạt động thường được khuyến cáo lựa chọn MRM, còn bệnh nhân viêm khớp dạng thấp có thể được xạ trị an toàn và do đó có thể lựa chọn hoặc MRM hoặc BCT.
- Có một số u lân cận và có các lắng đọng canxi trong cùng khu vực có u vú.
- Kích thước khối u lớn hơn; MRM thường được khuyến cáo cho bệnh nhân có khối u lớn hơn 50mm và cho bệnh nhân có khối u tương đối lớn so với kích thước của vú.
- Kích thước và hình dạng của vú; khó có thể xạ trị đồng đều ở bệnh nhân có vú to hoặc sệ và những bệnh nhân này có thể được khuyên chọn MRM.
Một số yếu tố gây ung thư vú không có vai trò quan trọng khi cân nhắc lựa chọn giữa BCT và MRM:
- Tế bào ung thư lan vào hạch nách
- Vị trí cụ thể của khối u trong vú; tuy nhiên, khi khôi u ở một số vị trí nhất định có thể làm giảm kết quả thẩm mỹ của BCT.
- Tiền sử gia đình về ung thư vú
- Nguy cơ di căn cao; tuy nhiên, nguy cơ di căn tăng đồi hỏi điều trị bổ trợ.
4. Xử trí hạch nách
Mặc dù khám lâm sàng có thể phát hiện một số hạch to nhưng phẫu thuật là biện pháp chính xác duy nhất để xác định xem ung thư vú đã lan vào hạch nách hay chưa. Lấy toàn bộ hạch nách thường là công việc thường quy theo truyền thống được tiến hành khi xử trí ung thư giai đoạn sớm cho những bệnh nhân có được điều trị bằng MRM hay bằng BCT. Tuy nhiên, có nhiều tranh cãi về chỉ định điều trị xâm lấn làm sạch vùng hạch. Rõ ràng, thông tin có được khi vét hạch mang tính chất tiên lượng. Hơn nữa, việc điều trị không đầy đủ các hạch nách dương tính sẽ làm tăng nguy cơ tái phát tại chỗ. Tuy nhiên, chưa có bằng chứng rõ ràng về việc điều trị xâm lấn hạch nách có thể cải thiện tỷ lệ sống sót. Cho dù như thế nào thì điều trị xâm lấn các hạch bạch huyết (phẫu thuật và/hoặc xạ trị) chắc chắn sẽ làm tăng nguy cơ biến chứng.
Phạm vi vét hạch nách được xác định bằng số lượng và vị trí hạch được vét bỏ. Biến chứng quan trọng nhất của vét hạch nách là phù cánh tay, mức độ phụ thuộc vào phạm vi vét hạch. Nhằm xác định chính xác những bệnh nhân có tổn thương hạch và hạn chế tối đa nguy có phù cánh tay, người ta đã hoàn thiện kỹ thuật sinh thiết các hạch có nguy cơ di căn đầu tiên.
Sinh thiết hạch có nguy cơ di căn đầu tiên
Khái niệm về hạch có nguy cơ di căn đầu tiên được đưa ra dựa trên giải thuyết là khi tế bào ung thư tách ra khỏi khối u ở vú thì sẽ xâm lấn một hoặc một vài hạch trước khi xâm lấn các hạch khác hoặc lan rộng hơn. Để phát hiện ra hạch đầu tiên này, bác sĩ tiêm một chất chỉ thị màu hoặc một chất liệu phát xạ hoặc cả hai vào vùng bao quanh khối u, chúng sẽ đi vào các kênh bạch huyết và sau đó đi vào hạch. Khi hạch đầu tiên được xác định, người ta sẽ lấy nó ra để nguyên cứu dưới kính hiển vi. Nếu hạch này âm tính, khả năng các hạch nách khác âm tính sẽ cao và những bệnh nhân như vậy có thể không cần vét toàn bộ hạch nách. Ngược lại, nếu hạch đầu tiên dương tính thì nguy cơ các hạch khác có tế bào ung thư vú sẽ cao và thường phải vét toàn bộ hạch.
Vấn đề cơ bản của kỹ thuật sinh thiết hạch có nguy cơ di căn đầu tiên là nguy cơ hạch bị "âm tính giả", tức các hạch nách khác thực sự có tế bào ung thư mà hạch đầu tiên lại dự báo là chúng âm tính. Khả năng âm tính giả của hạch đầu tiên liên quan đến kinh nghiệm của bác sĩ phẫu thuật khi thực hiện thủ thuật này. Ngay khi phẫu thuật viên có kinh nghiệm, nguy cơ chẩn đoán sai vẫn là khoảng 5-10%.
Nhiều bác sĩ đã cố gắng khắc phục vấn đề này bằng cách tiến hành một xét nghiệm hạch đặc biệt được gọi là nhuộm hóa mô miễn dịch (IHC.) Đôi khi IHC dương tính ngay cả khi không thấy hạch có tế bao ung thư vú dưới kính hiển vi quang học. Tuy nhiên, ý nghĩa của kết quả này chưa được xác định rõ; hầu hết các chuyên gia không khuyến cáo sử dụng thường quy kỹ thuật IHC đối với các hạch có nguy cơ di căn đầu tiên.

Thứ Hai, 15 tháng 12, 2014

Khám định kỳ theo dõi sau điều trị ung thư vú

Khám sức khỏe định kỳ có thể giúp phát hiện sớm bệnh ung thư vú. Mỗi người phải lưu ý một số triệu chứng báo động khi bệnh mới chớm để có biện pháp ngăn chặn bệnh tiến triển nặng hơn.
Việc xác định bệnh thường bắt đầu bằng việc người bệnh cho biết vài triệu chứng tổng quát hoặc triệu chứng chức năng nào đó, rồi bác sĩ mới thăm hỏi kỹ lưỡng. Có khi vài triệu chứng như: mệt mỏi, đau tức ngực... cũng giúp trả lời bạn có bị ung thư vú hay không. Đừng hoảng hốt, các xáo trộn này không hẳn là dấu hiệu của ung thư mà có thể là các bệnh khác. Thăm hỏi và khám kỹ hơn, bác sĩ có thể tìm ra một khối u nào đó, như một cục u ở vú, hạch cổ lớn ra…khi ấy bạn hãy nghĩ đến ung thư vú.
Việc theo dõi định kỳ là hết sức cần thiết đối với bệnh nhân ung thư vú. Theo dõi có thể giúp đánh giá hiệu quả điều trị, phát hiện và đánh giá mức độ nghiêm trọng của tác dụng phụ.
1 Khai thác bệnh sử và khám lâm sàng
Bệnh sử và khám lâm sàng rất hữu ích cho việc theo dõi triệu chứng ung thư vú và đáp ưng của các dấu hiệu bệnh lý, ví dụ các nhân ung thư dưới da, với điều trị. Tuy nhiên, ở 50% bệnh nhân ung thư vú di căn, bệnh sử và khám lâm sàng không cung cấp thông tin về đáp ứng của bệnh với điều trị.
2. Các thăm dò hình ảnh
X-quang và chụp cắt lớp là công cụ thăm dò hình ảnh hữu ích cho phép quan sát những thay đổi về kích thước và sự lan rộng của u vú di căn. Người ta thường tiến hành chụp phim định kỳ trong quá trình điều trị để đánh giá đáp ứng với điều trị ung thư vú. Xạ hình xương (dùng chất phóng xạ để ghi hình xương) giúp phát hiện di căn xương và xem di căn xương đang tiến triển hay đang thoái lui. Tuy nhiên, rất khó lượng giá được sự xâm lấn của ung thư vú trên hình ảnh xạ hình xương. Do đó, xạ hình xương không hữu ích bằng chụp X-quang và chụp cắt lớp trong việc đánh giá mức độ đáp ứng điều trị.
3. Các chất chỉ điểm khối u
Đối với những bệnh nhân không phát hiện được các dấu hiệu ung thư vú di căn bộc lộ ra ngoài, nồng độ các chất chỉ điểm u trong máu (ví dụ, CA125 và CEA) có thể hữu ích trong việc đánh giá đáp ứng của ung thư với điều trị. Nồng độ của các chất chỉ điểm khối u này trong máu tương ứng với tiến triển của ung thư vú ở 60-70% bệnh nhân ung thư vú di căn.
Việc chẩn đoán sớm được các dấu hiệu của ung thư vú sẽ giúp khả năng điều trị khỏi cao hơn, giảm thiểu chi phí và nguy cơ tử vong. Tuy nhiên, với tâm lý chủ quan của hầu hết người bệnh đã khiến bệnh phát triển đến giai đoạn nặng mới phát hiện, nên khả năng điều trị khỏi là hầu như không còn. Điều này ai cũng biết, nhưng không phải ai cũng thật sự quan tâm đến những dấu hiệu trên cơ thể của mình. Nhất là với các bệnh nan y, thì người bệnh càng phải thận trọng hơn, tốt nhất nên thực hiện các cuộc khám sức khỏe định kỳ, thực hiện lối sống lành mạnh, xây dựng thói quen theo dõi những thay đổi nhỏ nhất trong cơ thể.